Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011

Tranh dân gian Đông Hồ

Cây dó giấy: Sách đỏ Việt Nam (nguồn: http://www.vncreatures.ne...=1&loai=2&ID=3305 ) 
http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/caydogiay.jpg 
http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/hoadogiay.jpg 

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam - trang 235 

Tên Việt Nam: Dó giấy 
Tên Latin: Rhamnoneuron balansae 
Họ: Trầm Thymelaeaceae 
Bộ: Trầm Thymelaeales 
Nhóm: Cây gỗ lớn 

Làm giấy dó: "Nghề làm giấy dó có từ thế kỷ III, phát triển mạnh vào thế kỷ VIII và XIV. Làng Dương ổ xã Phong Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh vốn được coi là nơi sản xuất giấy có chất lượng cao nhất cho việc in tranh Đông Hồ..." (nguồn: http://dongcao.bis.vn/?pa...644078&portal=dongcao ) 
Nội dung viết về cách làm giấy dó trong link trên có chút hơi mâu thuẫn với wiki (http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y_d%C3%B3) 

Các loại giấy dó: (nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y_d%C3%B3 ) 
Giấy dó sản xuất tại làng An Cốc (Hà Tây) có 7 loại: 
1. Giấy phương 
2. Giấy trúc 
3. Giấy khay 
4. Giấy để tạo giấy sắc 
5. Giấy vua phê 
6. Giấy hành ri 
7. Giấy dó bìa 
Tại Hà Nội: 
1. Giấy sắc (Nghĩa Đô) 
2. Giấy moi, giấy phèn làm từ nguyên liệu thô hơn, có mặt giấy khô ráp, sử dụng để gói hàng (Triều Khúc, Yên Thái) 
3. Giấy xề: làm từ các đầu mẩu vỏ dó bị loại bỏ (làng Kẻ Cót hay làng Cót) 

Giấy điệp: 
Giấy dó làm từ cây dó, suy ra giấy điệp là từ cây điệp? ==> tư duy theo lối mòn kiểu này chắc chết con người ta lắm. 
Người ta lấy vỏ con điệp (một loại sò biển) đem nghiền vụn thành cám, rồi trộn với hồ (hồ có thể nấu từ gạo tẻ hoặc gạo nếp). Sau đó dùng chổi lá thông quét hồ điệp lên giấy dó. Thế là có giấy điệp. Người ta có thể pha thêm mầu vào trong hồ điệp để có được giấy điệp với mầu nền khác nhau. 

Tranh Đông Hồ: 
Tranh in bản khắc gỗ trên giấy điệp. Mỗi bản khắc gỗ in một mầu khác nhau. Mầu để in có nguồn gốc tự nhiên như than xoan cho mầu đen, xỉ đồng hoặc lá chàm cho mầu xanh, hoa hoè cho mầu vàng, sỏi son hay gỗ vang cho mầu đỏ. 
Người làng Đông Hồ thường dùng 4 bản khắc gỗ cho một bức tranh, nên cũng thông thường tương ứng có 4 mầu cho một bức tranh. 

Tôi thích tranh Đông Hồ. Ở hải ngoại, những nơi KTX đông người, sợ mở nhầm phòng, người Việt Nam thường dán tranh Đông Hồ (tranh Đông Hồ in ra từ máy tính) trên cửa. Bạn bè nơi khác đên chơi rất dễ tìm kiếm. 

http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/chantrauthoisao.jpg 
Chăn trâu thổi sáo 


http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/bankhacgo.jpg 
Bản khắc gỗ 


http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/dam-cuoi-chuot.jpg 
Đám cưới chuột 


http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/truyenThachSanh.jpg 
Truyện Thạch Sanh 


http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/hungdua.jpg 
Hứng dừa 
http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100112

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

Tuyển mỹ nhân




ĐẠI HỘI TUYỂN MỸ NHÂN

Viết bởi hoaphonglan 03:15 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (21) | Trackback Trackbacks (0) | Edit | Chung
Chào bà con!
Hôm nay sắp đến ngày 8 tháng 3, trăm hoa cùng nở rộ, trăm chim cùng đua hót, đây chính là lúc thuận lợi nhất để phủ tổng thống mở kỳ thi tuyển mỹ nhân.
Lão Hoa Phong Lan tôi vốn đông vợ nhiều con, nhưng bản tính phong lưu đa tình, lại là kẻ "thiên hạ đệ nhất ngạo mạn".
Thời gian qua tự phong mình thành tổng thống, thấy muôn phần lố bịch, nhưng bản tính kiêu căng tự mãn chẳng chịu để cho lão Lan tôi lùi bước.
Do vậy hôm nay nhất định đăng tin này nhằm mục đích tuyển mỹ nhân để đưa vô phủ trò chuyện.
Tiêu chuẩn:
- Trẻ đẹp xinh tươi, tuổi đời không quá đôi mươi, nhan sắc đạt mười, cái miệng cười duyên.
- Tâm hồn trong sáng, trí tuệ tuyệt vời, thông kim bác cổ, có thể cùng ngồi đàm đạo về lịch sử địa lý, về thiên văn địa văn, về văn chương chữ nghĩa cả ngày mà không hết vốn.
- Yêu thích và có khả năng hát dân ca, đặc biệt là hát chèo, hát văn, hát xẩm, hát quan họ và các điệu hò lý...

Tiêu chuẩn chỉ có vậy, chị em nào cảm thấy mình tự đủ tiêu chuẩn thì đăng ký nhé!

CHÚC CHỊ EM TRẺ HƠN, ĐẸP HƠN, và MUÔN PHẦN HẠNH PHÚC nhân dịp ngày QUỐC TẾ PHỤ NỮ!
góp ý

Thuê cần cẩu chở đá đến ném...
À không... thuê máy bay thả bom...
Vợ như thế có mà vẽ ra hử lão gàn...


Viết bởi Hà Thu Huyền 08 Mar 2007, 03:30

Bác ơi em biết một chút về hát xẩm nè. Miệng của em thì duyên phải biết rồi nhé... nói chung là quá tiêu chuẩn của bác luôn... bác thấy thế nào.. hi hi

Viết bởi Lonely Cloud 08 Mar 2007, 03:32

Hơ hơ... lão chỉ giỏi khích thui. Em chả thích ném ai bởi tính tình em vốn thuỳ mị nết na. Ấy em chả được cái gọi là mỹ nhân thì thôi lấy cái nết mà AQ hòng an ủi. hị hị.
Cơ mà đi qua nhà lão thấy đang xôm, em hóng ha hóng hớt, hót tạm ý này "người con gái mười phân vẹn mười như lão vẽ kia, có mà là tiên trên giời chứ thèm vô phủ nhà lão mà trò chiện làm chi cho mệt". phù phù...
hehehee...


Viết bởi Lady04 08 Mar 2007, 03:35

Yếm thắm đôi dải đong đưa
Váy đen lơ lửng như vừa tắm xong
Chỉnh trang môi đỏ, má hồng
Em đi kiếm chồng, dạo gót qua đây
Không ngờ gặp phải ông tây
Giở trò tuyển chọn mỹ nhân thế này
Bực mình nhặt cục đá to
Ném cho một phát, lủng ngay cái đầu


Viết bởi CHIBANA Kurara 08 Mar 2007, 03:37

I DON'T HAVE ANYTHING AS YOUR REQUESTS BUT I HAVE LOVE .CAN I JOIN? -BRO:-/

Viết bởi Evergreen 08 Mar 2007, 03:38

@ Huyền: em liệng nhiều đá thế, ung hết cả đầu lão rùi nè! hì hì... lão không có tuyển vợ à nghe... còn về tiêu chuẩn chắc là em được 2 phần rồi còn gì, chiếu cố em, duyệt liền.
@ Mây: chỉ mỗi hát xẩm thôi sao? như thế làm sao hát đối được?
@ LADY: hê hê... tiên lão cũng tuyển nha!
@ CHIBANA: đá gì mà to thế!
@ Muội: muội đâu cần phải join, muội chỉ cần order là huynh sẵn sàng tiếp chuyện muội.

Viết bởi HPL 08 Mar 2007, 03:40

Chị nhà có blog không anh? ;;)

Viết bởi Pókhun 08 Mar 2007, 03:42

Cái lão này câu kéo kinh quá đi thôi. Em cái gì cũng đủ tiêu chuẩn hết á. Mỗi tội không biết hát nhạc dân tộc :D. Cái món ấy em không nuốt trôi :(

Viết bởi Muazzz 08 Mar 2007, 03:45

Không ném mà đáp được ko huynh? Muội thích đáp hơn!haha...

Viết bởi Mộc Quế Hương 08 Mar 2007, 03:46

Người ông tuyển cháu thấy ko thiếu, nhưng tuyển cho ai mới được chứ ạ? Nếu tuyển riêng cho ông thì e...

Viết bởi Loan mong manh dễ vỡ 08 Mar 2007, 03:47

@NGA: chị hai làm gì có time mà blog, với lại nếu chị có blog thì lão huynh làm sao dám tuyển mỹ nhân công khai thế! hì...
@LEE: không biết hát nhạc dân ca thì đâu phải người Việt, và như vậy thì bị loại từ vòng gửi xe đạp rồi em ạ!
@Mộc Quế Hương: Muội có đáp cả xe đá vào huynh cũng chiều... hì...
@LOAN: tất nhiên là tuyển cho lão thôi, hơi đâu đi tuyển giùm người khác

Viết bởi HPL 08 Mar 2007, 03:48

Hi hi... tuyển được ai chưa lão ui. Em có 1 tiên đáp ứng đầy đủ iêu cầu của lão rùi, dưng mờ bảu cháu nó vào đây nộp hồ sơ thì nó bảu quên đê, nó còn bận lên sàn tham gia thị trường chứng khoán. Của nợ thế chứ lị. Rõ cái đồ... tiên huyền...

Viết bởi Lady04 08 Mar 2007, 03:50

Hê hê... căn bệnh TTCK, lây cả sang chị hai của lão rồi. Nhưng mà hay thật, mấy cái công ty chứng khoán thì cứ gạ mọi người chơi, còn chính nhân viên của họ thì lại thờ ơ. Như chị hai của lão ấy, chị thấy lão bó về cho ít lương khô, chẳng biết làm gì, mở ngay một tài khoản, nhưng lại mù văn tịt về cái gọi là "cổ phiếu". Chị hai liền gọi điện cho cô bạn ruột làm ở tòa nhà 18 tầng phố gì gần cầu Chương Dương ấy nhỉ? Cô bạn phán cho một câu xanh rờn: "thôi đi bà trẻ, xem có cái gì chắc ăn thì đầu tư, nếu không thì gửi tiết kiệm, không lại đến lúc khóc dở mếu dở vì mồ hôi mấy năm giời của zai biến thành nước lã"... kẹ kẹ... nghe câu ấy, chị hai liền mang hết mớ lương khô gửi có kỳ hạn luôn...

Viết bởi HPL 08 Mar 2007, 03:52

Huynh lười làm thơ, lão Lươn lười làm thơ, lão Chanh cũng lười luôn, muội chẳng được điếu đóm cho, chán quá huynh ơi! hic

Viết bởi Mộc Quế Hương 08 Mar 2007, 03:53

"Tuổi đời không quá đôi mươi" mà đòi "thông kim bác cổ" thì bác HPL này đúng là đang hái sao trên trời rùi, hehe...

Viết bởi Oldcat 08 Mar 2007, 03:57

Đây rồi, hôm nay rảnh rỗi mới về thăm nhà anh Lan được. Chẳng biết bác ấy lên chức Tổng thống bao giờ, mà ở cái nước khỉ ho nào ấy mọi người nhỉ! Cũng khéo vẽ vời lắm cơ ông anh ạ, chả thấy gặp gỡ ai khi nào cũng đòi tuyển này nọ. Tuyển trên giấy tờ rồi để đấy ạ
Tài thật, biết trước kết quả thế nào rồi mà anh vẫn đăng tuyển! :p

Viết bởi Sao đêm 09 Mar 2007, 03:58

Thôi thuê hẳn một đội B52 vào oanh tạc

Viết bởi Phạm Thanh Tú 09 Mar 2007, 04:00

Mỹ nhân kiểu gì... thông hiểu văn chương kim cổ cái kiểu gì mà mới viết linh tinh vài dòng đã đổ xô lại như đánh ghen thế này... he he...
Muội á... thừa đủ tố chất kia... nhưng đòi tuyển muội á? Huynh còn chưa đủ kiêu ngạo và phong lưu... ha ha...


Viết bởi Chuồn chuồn ớt 10 Mar 2007, 04:04

@ Oldcat: Kẹ kẹ... sao trên trời thì khó hái, nhưng có kẻ khùng vẫn muốn hái mới lạ.
@ SAO: úi trời... bão to quá thổi em SAO lạc vô đây. Lâu lắm mới thấy em à nha! Hì... chẳng biết hậu quả thế nào, cứ tuyển cái đã.
@Chuồn Chuồn Ớt: "huynh chưa đủ phong lưu và kiêu ngạo" ==>hình như ông trời bỏ nhầm em gái của huynh sang bên nhà muội... hì...

Viết bởi HPL 10 Mar 2007, 04:07

Sao mà dễ hái thì đã không có kẻ khùng... ke ke ke...

Viết bởi Lady04 10 Mar 2007, 04:09

Sao trên trời khó hái đã đành, nhưng còn thấy đó để dòm, còn kẻ khùng, thời buổi này làm gì có kẻ khùng nữa, ai cũng khôn cả rồi, kẹ kẹ... chỉ có kẻ khùng may ra kiếm được kẻ khùng thôi.
@ EM: hì... nếu hắn nhà em chê giọng em thì nó ra một nhẽ (có thể giọng em hát dân ca không ngọt bằng hát nhạc mới... kẹ kẹ... lão đoán bừa thế!)
Nhưng nếu zai của em lại nói rằng "không nuốt nổi" như kiểu em Miss Lee thì quả thật lão hơi bị bất ngờ. Nói gì đi chăng nữa, khi mới sinh ra ai cũng được cha mẹ hát ru bằng những bài dân ca. Cái thằng thái tử của lão, mấy bữa lão về nghỉ tết, nó toàn đòi lão ru không à. Ban đầu lão tưởng nó chê dân ca, đang định oánh, nhưng khi lão hát ru nó bằng các điệu dân ca, thì chỉ 2 bài là nó ngủ. Vậy hóa ra là nó thèm được ở gần ba càng nhiều càng tốt.
Sinh ra trong dân ca. Lớn lên trong dân ca. Cái hồi thanh niên thì biết thêm nhiều thứ nhạc khác nữa. Nhưng lại quay trở lại với dân ca khi có con. Rồi khi lên ông bà, lại cũng ru cháu bằng dân ca. Rồi khi các cụ ra đi, con cháu cũng đưa tiễn các cụ bằng nhạc dân ca...
Có thể ai đó (nhiều người) không yêu dân ca như lão (đam mê), nhưng nếu là người Việt mà nói rằng "không nuốt nổi" thì thực sự lão "nghi ngờ cái dòng máu lạc hồng" của người đó.

Viết bởi HPL 10 Mar 2007, 04:10

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

Nguyễn Xuân Nghĩa - KHI ĐẢNG ‘ĐA NGUYÊN’ KIỂU ‘NGŨ ĐẠI GIA’ CỦA MAFIA

KHI ĐẢNG ‘ĐA NGUYÊN’ KIỂU ‘NGŨ ĐẠI GIA’ CỦA MAFIA

Việt Nam vẫn hàng năm đạt tốc độ tăng trưởng cỡ 7%, tức là giàu có thêm bảy tỷ đô la. Ngẫu nhiên sao, bảy tỷ đó cũng là số tiền tươi mà người Việt bên ngoài gửi về... 

Năm 1975 là một năm Mão. Khi chiến tranh kết thúc thì dù thắng dù bại, người người đều mong hòa bình được vãn hồi sẽ tạo điều kiện tái thiết và phát triển đất nước. Ba mươi sáu năm sau, hình như đất nước có phát triển thật! Nhưng nếu nhìn lại thì có lẽ người ta nên tự hỏi là với cái giá phải trả là những gì? 

Và 25 năm sau "đổi mới kinh tế”, Việt Nam sẽ đi về đâu? 

Một cái nhìn lạnh lùng về kinh tế có thể góp phần cho câu trả lời... 

Trước hết, về bối cảnh thì từ 1945 đến 1975, ưu tiên của người Cộng sản Việt Nam là... cộng sản hóa xứ sở. Họ có nói thật mà người ta không tin! Rồi giờ này nhiều người còn tin rằng chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi, chuyện "chống cộng" trở thành lỗi thời, lạc hậu. Một sự quái lạ! 

Vì ưu tiên là cộng sản hóa, lại lồng trong Chiến tranh lạnh, việc tiến hành chiến tranh - hoặc nói cho văn hoa là đấu tranh - là một nhu cầu tất yếu. Nhờ viện trợ của khối Cộng sản, vấn đề kinh tế không là ưu tiên. Và sách lược phát triển kinh tế xã hội chủ yếu dựa vào lý luận kinh tế chính trị học Mác-Lenin, một lý luận chưa hề được kiểm chứng giá trị trong thực tế. 

Sau khi nắm được chính quyền tại miền Bắc, người Cộng sản có tiến hành một số chánh sách kinh tế xã hội vay mượn từ Liên Xô hay Trung Quốc - như ưu tiên phát triển kỹ nghệ nặng trên một xứ nông nghiệp, hoặc cải cách ruộng đất theo kiểu duy ý chí và sắt máu của Mao. Khi ấy, Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại hay "Đại Dược Tiến" của Mao đã có lúc được coi là mẫu mực với kết quả cực kỳ thảm khốc và có gây tranh luận về lý luận. 

Nhưng, tranh luận không ngã ngũ mà cũng chẳng có kết quả vì sự sai lầm bị khỏa lấp trong nhu cầu chiến tranh và chìm trong mối quan hệ của Hà Nội giữa Trung Quốc và Liên Xô. Vụ án gọi là "Xét lại chống Đảng" có thể là một thí dụ về sự bịp bợm của ngôn ngữ. 

Với người cộng sản - kể cả các tay lý luận kinh tế đã thành chuyên gia nhờ thấm nhuần Triết học Mác-Lenin hơn là kinh tế học - việc quản lý một quốc gia cộng sản hay xã hội chủ nghĩa là chuyện đơn giản. Năm xưa, Lenin đã chỉ ra rằng nó cũng đơn giản như dịch vụ phát thư mà! 

Vì vậy, sau khi chiến thắng và lật đật thống nhất cả nước năm 1976, lãnh đạo Hà Nội tiến hành việc quản lý theo bài bản đơn giản này. Đó là kế hoạch tập trung quản lý để "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa". 

XÂY DỰNG và BẢO VỆ 

Nhưng trong này, ta nên phân biệt hai hướng tranh luận hay chánh sách áp dụng từng thời. 

Khi người cộng sản nói "xây dựng xã hội chủ nghĩa", họ không hàm ý tích cực của chữ xây dựng mà là tiêu diệt mọi mầm mống "phi xã hội chủ nghĩa" - tiểu thương, tư sản hay tư bản. Tức là cải tạo xã hội. Về kinh tế thì phải cải tạo quan hệ sản xuất để giành lại cho guồng máy của đảng và nhà nước quyền làm chủ các phương tiện sản xuất. Nôm na là tịch thu bằng thông cáo. 

Lý luận cực đoan này dẫn tới khủng hoảng và lầm than, khiến quyền lực đảng bị đe dọa. Khi đó, người cộng sản lại có khẩu hiệu khác, đó là "bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa". 

Gặp trường hợp ấy, đảng tạm chậm nhịp cải tạo cho dân thở để đi vào sản xuất hầu đảng có thể trưng thu được phương tiện bảo vệ bộ máy cai trị. Chìm sâu dưới lý luận này là chân lý "có thực mới vực được đạo". Đạo ở đây là "cách mạng vô sản". 

Do đó, khi nghe người cộng sản nói "bảo vệ", ta biết là người dân tương đối dễ thở, như Chính sách Kinh tế mới (NEP) của Lenin tại Liên Xô năm 1921 hay sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ Sáu vào tháng Tám năm 1979 tại Việt Nam. Năm đó, chế độ bị lung lay vì cuộc chiến tại Kampuchia và sức ép của Trung Quốc. 

Nhưng việc nới lỏng như vậy không thể kéo dài vì chệch mục tiêu cách mạng là tiến lên xã hội chủ nghĩa. Cho nên sau đó chánh sách chấp nhận hợp đồng với các hộ trong hợp tác xã bị bãi bỏ, một số sáng kiến của người cộng sản ở trong Nam bị phê phán.

Để kết luận về khung cảnh lý luận, lãnh đạo Cộng sản rất lúng túng và có tranh luận về quốc kế dân sinh, nhưng không dời đổi mục tiêu. Vì chủ quan, 10 năm sau 1975 là 10 năm phá sản, khủng hoảng, với lạm phát phi mã. Đó là dấu mốc 1975-1986, tiền đề cho chuyện đổi mới.  

BA NHỊP ĐỔI MỚI 

Khi kinh tế bị khủng hoảng cùng cực vào các năm 1984-1985, Hà Nội biết mình sai, kể cả những người trước kia rất cực đoan như Trường Chinh. 

Họ càng biết sau khi Mikhail Gorbachev lên làm Tổng bí thư tại Liên Xô vào đầu năm 1985 và ông ta không chỉ cải cách mà còn khuyến cáo các nước xã hội chủ nghĩa khác phải thay đổi. Bên kia biên giới, Đặng Tiểu Bình cũng đã phát động cải cách tại Trung Quốc từ đầu năm 1979 mà Hà Nội chưa hiểu gì nhiều về nội dung vì đôi bên đã đoạn giao sau cuộc chiến 1979. Bị rát tay vì muốn "cho Hà Nội một bài học", họ Đặng đã thuyết phục được tướng lãnh và phe thủ cựu còn lại là phải hiện đại hóa, nghĩa là cải cách để "bảo vệ", và việc xây dựng xã hội chủ nghĩa có thể sẽ kéo dài 50 năm, hoặc cả trăm năm cũng chẳng sao. 

Nhưng khi ấy dù biết mình sai, Hà Nội vẫn chưa biết thế nào là đúng. Đại hội đảng Khoá VI là biểu hiện của trạng thái kỳ lạ đó mà ta có thể gọi là "đổi mới nhịp một". 

Tức là phát động đổi mới một cách miễn cưỡng và tiêu cực: đảng và nhà nước tạm buông bàn tay ôm đồm hắc ám của mình cho người dân được túa ra làm ăn. Làm việc và ăn nói. Đấy là thời kỳ "đổi mới tự phát", nổi từ dưới lên, chứ không hẳn là ban hành từ trên xuống một cách lớp lang, có trình tự hẳn hoi. 

Trạng thái miễn cưỡng ấy kéo dài năm năm, cho tới khi Liên Xô khủng hoảng, tan rã và Hà Nội rút quân khỏi Kampuchia để giảm bớt hao tổn chừng 5% tổng sản lượng một năm. Rồi tái lập bang giao với Trung Quốc. Khi đó, từ 1991, đảng và nhà nước phải đổi mới từ trên đầu xuống.

Đó là "đổi mới nhịp hai". 

Nhưng lại theo hai hướng trái ngược. Về kinh tế thì chấp nhận chế độ kinh tế nhiều thành phần, chủ yếu là cho phép thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được kinh doanh thoải mái hơn. Nhưng về văn hoá chính trị thì lại xiết chặt - nôm na là dẹp luôn trò "cởi trói văn nghệ". 

Chỉ vì kinh nghiệm khủng hoảng tại Trung Quốc từ vụ Thiên An Môn năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô khi Gorbachev tiến hành cả cải cách kinh tế (perestroka) lẫn chính trị (glasnost). 

Trong 10 năm sau đó, từ 1991 đến năm 2000, Hà Nội đổi mới theo kiểu mò chân xuống nước để tìm đường đi và chỉ cải cách những gì không đe dọa quyền lực của đảng. 

Vì lối tư duy đó, dù đổi mới đã có bài bản hơn, và từ trên ban xuống, đảng vẫn chỉ đổi mới nửa vời, có chọn lọc theo lối vừa học vừa sửa. Và học của Bắc Kinh. 

Về lý luận thì vẫn là tiến lên xã hội chủ nghĩa, nhưng nhờ kinh tế thị trường. Đó là khẩu hiệu "kinh tế thị trường theo định hướng nhà nước" phát minh vào năm 1994, rồi "kinh tế thị trường do nhà nước quản lý theo định hướng xã hội chủ nghĩa" sau này. Dù chẳng ai giải thích được cái "định hướng" ấy là gì. 

Khi tư nhân được phép kinh doanh, dù là trong chế độ kinh tế thị trường hoang dại, thiếu hạ tầng cơ sở luật lệ minh bạch, thì tình hình sản xuất có cải tiến. Đảng coi đó là công lao của mình. Chuyện ấy cũng dễ hiểu. Nhưng khó tha thứ hơn là một hiện tượng mới, bắt đầu xuất hiện sau khi kinh tế được giải phóng một phần. 

Đó là "đổi mới nhịp ba". 

Chúng ta đi tới tình trạng ngày nay, phát sinh trong 10 năm đầu của thế kỷ 21. Khi hết sợ khủng hoảng và sụp đổ thì đảng tìm ưu thế có chọn lọc của khu vực kinh tế nhà nước, của tổng công ty quốc doanh và tập đoàn kinh tế chiến lược theo kiểu "chaebols" Nam Hàn. 

Khu vực kinh tế chủ đạo ấy thật ra sản xuất kém, tuyển dụng ít nhân công nhưng thu hút rất nhiều tín dụng và đầu tư để tập trung tiền tài vào một thiểu số. Thiểu số này là đảng viên cán bộ và thân nhân, trở thành triệu phú hay tỷ phú bằng đô la và có ảnh hưởng vào Trung ương đảng lên tới Bộ Chính trị. 

Tham nhũng chỉ là hậu quả tất yếu nhờ chế độ độc tài. Nạn bất công xã hội cũng vậy, với khoảng cách giàu nghèo ngày càng đào sâu giữa các thành phần kinh tế và giữa các địa phương. 

Nhưng về kinh tế thì họ làm lệch lạc việc sung dụng tài nguyên quốc gia và gây nhiều lãng phí. Mà về môi sinh thì tai họa cho tương lai Việt Nam là một "ẩn phí" kinh hoàng. Trong khi đó, hạ tầng cơ sở hữu hình là hệ thống tồn trữ và chuyển vận cùng hạ tầng cơ sở vô hình là luật lệ thì vẫn lạc hậu, thô sơ. 

Vì thế kinh tế Việt Nam không có nền móng lành mạnh, tăng trưởng không có phẩm chất và Việt Nam không có hy vọng bắt kịp các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á. Chưa nói đến sự lệ thuộc khó gỡ vào nền kinh tế Trung Quốc. 

Kết lại cho dễ nhớ thì 35 năm qua có 10 năm hoang tưởng và khủng hoảng 1976-1986, năm năm bần thần lúng túng 1986-1991, 10 năm đổi mới nửa vời 1991-2001 và 10 năm đảng viên cán bộ làm giàu trên thành quả giả của tăng trưởng và tổn thất thật cho xứ sở. 

Như vậy, đổi mới sẽ đi về đâu?

CÂU HỎI CHO TƯƠNG LAI 

Tương lai ít khi là đường thẳng vạch ra từ quá khứ, thí dụ như với tốc độ tăng trưởng là 7% một năm thì lợi tức của Việt Nam sẽ nhân đôi sau mỗi 10 năm. Đường thẳng ấy sẽ có nhiều khúc bẫy bất ngờ. 

Nhưng ta vẫn phải nhìn vào thực tế Việt Nam để e ngại những giả thuyết xấu nhất xuất phát từ huyền thoại đổi mới. May ra thì dự đoán ra các khúc gẫy! 

Thứ nhất, đổi mới có dẫn tới một chân lý mới, đó là "có thực mới vực được đạo... tặc". 

Vì thiếu thực lực, Việt Nam không có chế độ chính trị hung đồ như Trung Quốc mà một chế độ chính trị đạo tặc, ăn cướp. Đảng viên cán bộ có đầy thẩm quyền tham nhũng giữa ban ngày, tức là ăn cướp. Những vụ án tham nhũng hay chuyện Vinashin phá sản chỉ là mặt nổi ở trên. 

Hậu quả thứ hai của chế độ chính trị đạo tặc ấy là một xã hội lý tài, chạy theo mối lợi vật chất và các biểu hiện hình thức của nó. Trong xã hội lý tài đó, có quan hệ với đảng viên cán bộ để cùng nhau làm giàu là phép ứng xử khôn ngoan của rất nhiều người. Hạ tầng cơ sở mục nát lạc hậu vẫn không ngăn được các đại gia khoe của bằng phi cơ riêng hay những loại xe hơi đắt tiền nhất. 

Hậu quả thứ ba là nạn băng hoại tinh thần và hết phân biệt đúng sai về luân lý hay luật pháp. Tiền bạc và quan hệ chính trị thừa sức xé luật, và trở thành chân lý xã hội. Với chế độ giáo dục và đào tạo phá sản trên cái nếp văn hoá lý tài và trục lợi đó, các thế hệ tương lai sẽ khó có tương lai - trừ phi xuất ngoại và ở luôn bên ngoài. Còn lại là một xã hội chỉ muốn làm gia công. 

Hậu quả thứ tư, kinh tế không thể phát triển với nền móng ruỗng nát đó và vì vậy, càng khó tạo ra phương tiện bảo vệ chủ quyền. Khó cạnh tranh với thiên hạ, Việt Nam sẽ nương vào thiên hạ để kéo dài sự phồn vinh giả tạo và rất dễ bị chấn động oan uổng vì sai lầm trong chánh sách, khi nhà nước quản lý rất rộng cái gì cũng xía vào - mà cũng rất nông vì chẳng điều động được gì. 

Hậu quả thứ năm, ở trên cùng, ở thượng tầng chính trị, ta sẽ có một đảng... đa nguyên. 

Hà Nội không chấp nhận chính trị đa nguyên và vẫn chủ trương độc đảng dưới nhãn hiệu xã hội chủ nghĩa mà chính các đảng viên đã hết tin. Nhưng cái đảng độc quyền này mặc nhiên bị phân hóa không phải ra nhiều xu hướng chính trị khác nhau mà thành nhiều trung tâm quyền lợi khác nhau. Vì quyền lợi, các phe nhóm đấu đá lẫn nhau và tạo ra ảo giác là có đấu tranh giữa phe thực tiễn với phe cực đoan, phe tham nhũng với phe trong sạch. 

Thực tế thì phe nào cũng thực tiễn kiếm tiền và cực đoan bảo vệ đặc quyền và đặc lợi của họ. 

Cái nghịch lý độc đảng mà đa nguyên này là điều kỳ lạ nhưng nguy hại nhất, và có thể khiến người đấu tranh về chính trị cho dân chủ của Việt Nam dễ hiểu lầm. Nhất là khi Hà Nội đã bang giao với Hoa Kỳ, đảng viên cán bộ kiếm rất nhiều tiền để... tái đầu tư vào thị trường Mỹ! Có khi còn nhờ người Việt tại Mỹ tác động vào chính trường Mỹ theo chiều hướng có lợi cho họ qua lý luận là nếu kinh tế mà cải thiện thì tất nhiên dẫn tới cải thiện chính trị. Nếu nhờ Mỹ mà trở về giữ thế "đối lập nhịp nhàng" thì có khi lại bỗng chốc nên quan. 

Trong khi ấy, và đây là nghịch lý khác, Việt Nam vẫn hàng năm đạt tốc độ tăng trưởng cỡ 7%. So với Tổng sản lượng chừng 100 tỷ đô la hiện nay thì như vậy mỗi năm lại giàu có thêm bảy tỷ. Ngẫu nhiên sao, bảy tỷ đó cũng là số tiền tươi mà người Việt bên ngoài gửi về, theo ngả chính thức mà trong nước gọi là kiều hối. Thực tế thì còn cao hơn nhiều! 

Chúng ta thấy có gì đó không ổn với tình trạng quái dị này của đất nước. . Nhưng nhiều người vẫn không thấy, vì quả thật Việt Nam có thay đổi trên cái trục thời gian - 2005 có khá hơn 1985 – mà lại tụt hậu trên cái trục không gian nếu ta so sánh với các nước trong khu vực Đông Á.

Để kết luận ngắn gọn, ý thức hệ cộng sản và lề lối quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phá sản nhưng không vô dụng cho đảng. Khi phải đổi mới kinh tế, người cộng sản dùng lý luận xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh ngụy trang một cho hình thức bóc lột mới. Bên dưới là một sự tan hoang không lối thoát. Hạ tầng kinh tế không khá được vì thượng tầng chính trị ở trên. 

Như thông lệ, đảng cộng sản chỉ thay đổi khi bị khủng hoảng. Và lần này, khủng hoảng có thể làm các đảng viên tiêu tán vì mọi biến động kinh tế đều lan vào xã hội - và dội lên chính trị. 

Nhưng một trận khủng hoảng nữa thì sẽ dẫn Việt Nam tới đâu, ở bên Trung Quốc là mẫu mực - mà hành xử như mẫu quốc?

Cước chú cho tấm hình: Sau khi mọi ông thần đều... cụt đầu, cái đảng độc quyền mặc nhiên bị phân hóa, nhưng không phải ra nhiều xu hướng chính trị khác nhau. Nó thành đa nguyên theo kiểu... mafia có ngũ đại gia. 

__

(Viết cho Việt Báo Xuân Tân Mão – ngày 17 Tháng Hai, 2011)

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2011

Trấn Võ là ở đâu?



http://www.thivien.net/forum_viewtopic.p...

"Gió đưa cành trúc la đà 
Tiếng chuông Trấn Võ canh gà Thọ Xương 
Mịt mờ khói tỏa ngàn sương 
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
(ca dao) 


"Gió đưa cành trúc la đà 
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương 
Thuyền về xuôi mái sông Hương 
Có nghe tâm sự đôi đường đắng cay" 
(ca dao) 

Hai bài ca dao đồng dạng ở trên chắc là ai cũng đã từng nghe. Hai bài ca dao hay đến mức độ nào thì ai cũng có thể cảm nhận. 

Tuy nhiên hôm nay lão sẽ bàn về những địa danh được nhắc đến trong hai bài ca dao trên. 

1. Trấn Võ là ở đâu? 

Hiện nay có sự tranh cãi về địa danh Trấn Võ: 

a- Trấn Võ là chùa Trấn Quốc trên đảo Cá Vàng đường Cổ Ngư (đường Thanh Niên)? Khi tham khảo lịch sử chùa Trấn Quốc trên wiki thấy chùa này từng mang các tên Khai Quốc, An Quốc, rồi Trấn Quốc và Trấn Bắc. Không thấy nhắc tới tên Trấn Võ hay Trấn Vũ. Tuy nhiên, không rõ trên wiki có ghi chép đầy đủ so với bia lịch sử ở chùa hay không? 

b- Trấn Võ là đền Quán Thánh? Đền Quán Thánh ở đầu đường Cổ Ngư, nhiều người gọi nhầm là đền Quan Thánh rồi suy nhầm ra là đền thờ ông Quan Công. 
Đền Quán Thánh chỉ là cái tên mà nhân dân thường gọi thực ra tên đền là Trấn Vũ Quán. Trong Trấn Vũ Quán thờ đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ

Theo đó địa danh Trấn Võ trong bài ca dao trên có vẻ như là Trấn Vũ Quán tức đền Quán Thánh thì chính xác hơn. Tuy nhiên, chùa nào cũng có chuông, nhưng đền thì chỉ có khánh thôi thì phải? 

http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/CanhChuaTranQuoc1.jpgChùa Trấn Quốc 
http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/TranVuQuan.jpgTrấn Vũ Quán - Đền Quán Thánh 
http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/HuyenThienTranVu.jpgTượng Huyền Thiên Trấn Vũ 

2. "canh gà Thọ Xương": Hì... hì... lão cứ tưởng chuyện đùa, hoá ra lại là chuyện thật khi khá nhiều người (tourist guide) cho rằng "canh gà" là "chicken soup"?!!?! 
"Canh gà" ở đây là tiếng gà gáy báo canh (canh ba - canh bốn - canh năm gì đó). 
Thọ Xương, cũng theo wiki, hiện nay có hai nơi là xã Thọ Xương, một ở thị xã Bắc Giang, một ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hoá. 
Thọ Xương trong bài ca dao thứ nhất là một địa danh cũ của Thăng Long. Cho đến thời nhà Nguyễn vẫn còn huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Hiện nay còn lại một di tích có dấu tích của huyện Thọ Xương xưa, chính là Văn Chỉ Thọ Xương ở trong ngõ 222 Bạch Mai 

Tuy nhiên, ở bài ca dao thứ 2, không nhẽ có cụ nào thính tai đến mức vừa nghe được tiếng chuông chùa Thiên Mụ và cùng lúc ấy nghe được tiếng gà gáy báo canh ở tận tỉnh Hà Nội? 

3. "nhịp chày Yên Thái" giã cái gì vậy? làng Bưởi - Yên Thái - ở Hà Nội có nghề làm giấy dó, do đó nhịp chày giã bột giấy vọng cả vào trong ca dao. Khu vực xung quanh Hồ Tây dọc theo phố Thuỵ Khuê ngày nay, trước đây là mấy làng làm giấy dó, đó là làng Hồ Khẩu, làng Kẻ Bưởi, Đông Xã, An Thọ, Yên Thái.

http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/langYenThai.jpgCổng làng Yên Thái trên phố Thuỵ Khuê 


4. "mặt gương Tây Hồ" là ở đâu ấy nhỉ? 

5. chùa Thiên Mụ: ai cũng biết là ở đâu rồi. Chùa được chúa Nguyễn Hoàng xây năm 1601. Chùa còn có tên là Linh Mụ. Lịch sử và huyền thoại của ngôi chùa Thiên Mụ, Phước Duyên Bảo Tháp,... để khi nào kể sau.

http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/ChuaThienMu.jpgChùa Thiên Mụ 


6. Ở Huế có địa danh Thọ Xương không?: Trong web site của trường trung học Hàm Nghi có một bài viết về địa danh Thọ Xương hay Thọ Khương hayLong Thọ Cương http://www.hamnghihue.com...s.aspx?cat=29&post=88 Bài viết này đã trích ra một đoạn trong Đại Nam Nhất Thống Chí như sau: 

Thọ Khương là một vùng đồi, sát cạnh bờ Nam sông Hương, đối diện đồi Hà Khê bên kia sông. Từ đồi Thọ Khương, có thể nhìn được toàn cảnh xứ Huế từ núi Kim Phụng đến phá Tam Giang, từ Văn Thánh – Võ Thánh đến bến chợ Dinh, Cồn Hến. Dưới rừng thông Thọ Khương là kho Thọ Khương – Kho thóc tại Thuận Hóa thời tiền Nguyễn. Tương truyền trước kia trên gò có nhà, từng rước tử cung Anh Tông, Hiển tông, Túc Tông và Thế Tông để tạm ở đấy. Trước gọi là Thọ Khương, đầu niên hiệu Gia Long đổi tên là Thọ Xương, năm Minh Mạng Thứ 5, đổi tên là Long Thọ Cương, dựng đình bát giác ở trên gò gọi là đình Long Thọ Cương

7. "chiều về trên bến sông Hương": sông Hương hẳn là nhiều bến, ngay gần chùa Thiên Mụ cũng có bến nước...

http://i193.photobucket.com/albums/z206/laoxichlo/hoa/ChuaThienMu2.jpg


Ngoài bài ca dao ở trên, cũng có một số bài thơ khác có "cành trúc la đà"

"Gió đưa cành trúc la đà
Gió qua, trúc giữ gió mà làm chi
Trên đầm chiếc nhạn bay đi
Đầm lưu bóng nhạn làm chi cho phiền"
(Tổ Từ Vân dòng Thiền Tông, người Bình Định có công lớn truyền bá Phật Pháp tại Tây Nam Nam Việt)

Gió đưa tàu chuối la đà
Tiếng chuông Xá Lợi, canh gà Thủ Thiêm
(Ca dao)

"Gió đưa ngọn trúc la đà"
Lời ru mẹ hát nhớ hoài trong tâm.
Tập con từ thuở lọt lòng,
Thanh cao, đơn giản như là cây tre.
(ca dao)

Và cũng có một câu chuyện cười về cái "cành trúc la đà" này

(sưu tầm)
Chuyện kể về một anh sinh viên người Hung sang Việt Nam làm nghiên cứu sinh môn tiếng Việt.
Cuối đợt nghiên cứu trường ÐHQG Hà Nội tổ chức một kì thi gọi là kiểm tra trình độ của từng nghiên cứu sinh. Ðề văn ra như sau:
"Anh (chị) hãy giải thích câu ca dao:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương."

Ðọc xong đề, anh chàng sinh viên khoái trí lắm vì nghĩ rằng không có gì là khó, nhất là khi anh có mang theo cả từ điển. Sau một hồi tra cứu chảy nước mắt, xem ra anh ta đã tường tận nhiều điều:
"Gió đưa (được) cành trúc" thì ắt hẳn phải là gió to, ý hẳn là có bão.
Với từ "la" anh phân vân giữa hai cách hiểu:
+ "la" là sự kết hợp giữ lừa và ngựa.
+ "la" anh đoán rằng đề đã in sai, phải là lao mới đúng. Và anh đã chọn cách hiểu này.
"Ðà" là thanh tà vẹt để tàu có thể chuyển động trên đó.
"Thiên mụ": đàn bà trời - ý hẳn là vợ trời.
"Thọ": nhiều lần (lâu)

Và cuối cùng anh ta đã cho ra đời một sản phẩm bất hủ:
"Trời nổi cơn bão lớn
Lao xuống tà vẹt đường
Vợ trời đánh một tiếng chuông
Canh gà húp vội, hóc xương mấy lần"

Hi... hi... chuyện này nghe kể từ khi tóc còn để chỏm, nay xem lại thấy vẫn cười vỡ bụng, quả là phát kiến lớn! 

http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100116

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Sống thử



Thiên chúa giáo thì Thiên Chúa là đấng tối cao.
Phật giáo thì Phật tổ là đấng Từ Phụ.
Nho giáo thì chỉ thờ Khổng Tử.

Sống thử hay không sống thử? Nên hay không còn tùy vào chuẩn mực đạo đức của từng người, còn tùy vào xuất phát điểm của giá trị cuộc sống.
Hạnh phúc có bền lâu hay không, không hoàn toàn phụ thuộc vào việc có sống thử hay không? Việc có sống thử hay không cũng không ảnh hưởng đến hạnh phúc sau này.

Người ta "sống trên đời cần phải có tấm lòng", có tinh thần trách nhiệm đối với đối tác của mình trong cuộc sống.
Kể cả có sống thử hay không sống thử, nếu hai người cứ lúc nào cũng "cái tôi" của mình to quá thì sớm hay muộn hạnh phúc cũng tan vỡ.

Còn về chuyện ai thiệt khi sống thử? Thiết nghĩ chẳng ai thiệt cả. Nếu biết cách sống văn minh khỏe mạnh thì chẳng ai thiệt thòi hết.
Đã chấp nhận sống thử thì chuyện chấp nhận dư luận là đương nhiên.
SInh hoạt tình dục sao cho không để lại hậu quả lớn là không hề khó. "Đừng để mình chết vì thiếu hiểu biết" - câu này thì thanh niên thời nay hiểu rõ lắm mà.

Ở những nước khác có những cặp đôi sống thử đến vài năm vẫn chia tay, khi chia tay thì không còn cảm xúc với nhau nữa. Tương tự như vậy ở VN chưa công khai chuyện sống thử, nhưng hàng loạt "cặp trai tài gái sắc", đám cười linh đình, ảnh cưới chưa kịp khô mực, cưới nhau vài năm rồi bỏ thì khác gì là cưới thử.

Bởi vậy có đồng ý hay không đồng ý với chuyện sống thử thì vấn đề cốt lõi lại là chuyện CÓ TẤM LÒNG HAY KHÔNG? CÓ TRÁCH NHIỆM HAY KHÔNG? CÓ TÔN TRỌNG LẪN NHAU HAY KHÔNG?
Một người sống chỉ biết mình, vô trách nhiệm với người khác thì có làm đám cưới đi chăng nữa, cũng chỉ là cưới thử mà thôi.
http://hoaphonglan.vnweblogs.com/category/9171/16591/page/2

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

Khoảng tối 20 năm

Hình ảnh
Trong lịch sử Việt Nam có một khoảng tối 20 năm. Khoảng tối này nhẽ ra có thể không xảy ra.

Năm 1400, cuối thời nhà Trần, triều đình mục ruỗng thối nát. Vua không có uy, quan tham đông hơn dân thường, đất nước lầm than, giặc dã nổi lên khắp nơi.
Hồ Quý Ly - Phụ chính Thái sư nhiếp chính, tước Trung tuyên Vệ quốc Đại vương, nắm trọn quyền hành trong nước - là ông ngoại của vua Trần lúc đó. Hồ Quý Ly phế truất cháu ngoại Trần Thiếu Đế, rồi tự phong mình làm vua.

Người ta đánh giá Hồ Quí Ly là một ông vua sáng, có nhiều cải cách tốt.

Tuy nhiên thủ đoạn chính trị của ông hơn kém nên không phục được lòng dân, khiến mất nước vào tay nhà Minh năm 1407.

Trên thực tế nếu Hồ Quí Ly không phế truất vua Trần thì nhà Trần khi ấy cũng đã quá mục ruỗng, chỉ cần cơn gió mạnh là sụp đổ ngay.

Khi Hồ Quí Ly lên ngôi vua, những kẻ ganh nghét quyền lợi đã mượn danh "dân tộc" và "phò Trần" để xúi giục nhân dân phản Hồ. Dẫn đến thế nước suy kiệt và thua vào tay nhà Minh.

Giá thử ngày đó Hồ Quí Ly được yên ổn thực thi chính sách cải cách thì có lẽ nước Đại Việt bây giờ đã khác rất nhiều.

Sau này Lê Lị (Lê Lợi) khởi nghĩa Lam Sơn năm 1418, đánh tan quân Vương Thông năm 1427. Đầu năm 1428 Lê Lợi lên ngôi vua đất nước được độc lập. Nhưng xem ra khả năng cách tân của nhà Lê, sau này là nhà Nguyễn cũng không thể bằng họ Hồ.

Nhà Hồ mất nước Đại Ngu năm 1407 - Nhà Lê đánh bại quân Minh năm 1427. Hai mươi năm đó là khoảng tối của lịch sử nước nhà mà nhẽ ra có thể tránh được nếu các "nhân sĩ" thân nhà Trần có thể gạt bỏ lợi ích cá nhân đặt lợi ích dân tộc lên trê hết.

Than ôi! nhân sĩ nhiều khi cũng hại dân hại nước!

http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100119


Zoom in (real dimensions: 562 x 720)Hình ảnh
Zoom in (real dimensions: 640 x 960)Hình ảnh

Zoom in (real dimensions: 640 x 599)
Zoom in (real dimensions: 640 x 960)Hình ảnh
Zoom in (real dimensions: 634 x 1024)Hình ảnh

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2010

BCT

1. BCT là cơ quan cao nhất của đảng CS. Tất cả các nghị quyết của BCT là tối cao, không bàn cãi, mọi cơ quan của đảng CS phải nhất nhất thi hành.
Theo điều 4 hiến pháp VN năm 1992, đảng CS là đảng duy nhất nắm quyền lãnh đạo đất nước. Do đó có thể nói là BCT tương tự như hoàng thượng ngày xưa.

So về quyền lực bên trong một quốc gia thì tổng thống Mẽo không chắc có quyền lực nhiều nổi bằng BCT của CS Tàu khựa hay BCT của CSVN.

2. Về mặt lý thuyết thì BCT cũng được hưởng lương ngân sách. Tuy nhiên, thành viên BCT chẳng ông nào sống bằng lương cả. Làm việc vất vả thế, lương ba cọc ba đồng thì ăn cám à?
Bởi vậy các cơ quan bên dưới BCT phải phát lương cho BCT. Đây là cơ chế rất linh động giúp bôi trơn bộ máy xã hội...
Một cử chỉ tốt đẹp như vậy nhẽ ra không nên chống. Mấy ông nhà báo lại cứ chọc gạy bánh xe nên mới được gọi vào tù để cải tạo lại.
***
*****
***
(Sưu tầm) Hội đồng tương trợ kinh tế mở cuộc họp cấp cao tại Moskva để bàn về phần đóng góp của mỗi nước thành viên, tuỳ theo thế mạnh của mình, vào kế hoạch sản xuất chung.

Sau mấy buổi thảo luận sôi nổi, cuối cùng Liên Xô lãnh phần sản xuất máy công cụ và dầu khí, Cộng hoà Dân chủ Đức sản xuất máy đo chính xác, Hungari sản xuất đồ điện tử, Ba Lan đóng tàu viễn dương, Cuba sản xuất đường, Mông Cổ sản xuất len và thịt gia súc…

Đến lượt VN, vị trưởng đoàn đứng dậy, trịnh trọng tuyên bố:
“Nước chúng tôi dù vừa vượt qua bom đạn chiến tranh, vẫn hăng hái lãnh phần sản xuất… nghị quyết!”
***
*****
***
(Sưu tầm) Ba con vẹt

Nghe đồn chợ chim - chó ở đường Hàm Nghi đang bày bán ba con vẹt lạ vừa mang từ Hà Nội vào, dân Sài Gòn kéo nhau đi xem đông nghẹt. Nhưng mọi người chỉ xem thôi chứ chẳng ai mua nổi vì người bán “quát” giá quá đắt: con vẹt trắng giá 1.000 đồng, con vẹt xanh giá 5.000 đồng, con vẹt đỏ giá tới 25.000 đồng. Theo lời quảng cáo của người bán, con vẹt trắng biết hô khẩu hiệu, con vẹt xanh biết đọc diễn văn chúc mừng…
Một người tò mò hỏi:
“Vậy con vẹt đỏ biết làm gì mà giá mắc gấp mấy mươi lần hai con kia?”
“Nó không biết làm gì cả” - người bán lạnh lùng đáp.
“Ủa, không biết làm gì mà dám kêu giá vậy?”
Người bán vẹt thủng thỉnh đáp:
“Nó không biết làm gì thực, nhưng nó là thủ trưởng của hai con vẹt kia.”
***
*****
***
(Sưu tầm) Khi Tố Hữu cho đăng trên báo Văn nghệ và nhiều báo khác bài “Đảng và thơ”, toàn văn như sau:

Trên năm mươi tuổi Đảng và thơ
Từ ấy hồn vui mãi đến giờ
Mái tóc pha sương chưa cạn ý
Con tằm rút ruột vẫn còn tơ
Thuyền con vượt sóng không nghiêng ngả
Nghiệp lớn muôn đường lộng ước mơ
Mới nửa đường thôi, còn bước tiếp
Trăm năm duyên kiếp, Đảng và thơ.

Ngay sau đó, từ Hà Nội lan truyền khắp cả nước bài thơ hoạ, ý và thơ “đối nhau chan chát”:

Năm mươi năm ấy vẫn còn thơ
Từ ấy đua chen mãi đến giờ
Mái tóc pha sương chưa hết dại
Con tằm rút ruột chẳng còn tơ
Thuyền con quá tải không qua sóng
Mộng lớn tài hèn chớ ước mơ
Với giá, lương, tiền dân khốn đốn
Trăm năm bia miệng, hỡi nhà thơ!

Bà con khoái thơ phú kháo nhau rằng tác giả bài thơ hoạ này là một sĩ phu thứ thiệt: Nhà trí thức văn hoá, giáo sư bác sĩ Nguyễn Khắc Viện
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Kh%E1%BA%AFc_Vi%E1%BB%87n

Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) là Nhà hoạt động chính trị - xã hội, nhà nghiên cứu văn hóa và tâm lý - y học- giáo dục, giải thưởng Nhà nước Việt Nam và Grand prix de la Francophonie của Viện Hàn lâm Pháp. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu giá trị cho Việt Nam.
  • Quê ông ở làng Gôi Vị bên bờ sông Ngàn Phố, nay là xã Sơn Hòa huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con trai của cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm làm Thượng thư Bộ Lễ triều đình nhà Nguyễn.
  • Ông từng học ở trường Collège Vinh, một trường có tiếng nhiều học sinh giỏi như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đức Nguyên (tức Hoài Thanh)...
  • Sau khi chuyển vào Huế học và đỗ Thành chung, năm 1931, ông ra Hà Nội học lớp tú tài trường Bưởi.
  • Năm 1935, sau khi đỗ tú tài rồi, ông thi đậu vào trường Đại học Y khoa Hà Nội.
  • Năm 1937, ông được sang Pháp học tại Đại học Y khoa Paris.
  • Năm 1941, ông tốt nghiệp bác sĩ nhi khoa và bác sĩ các bệnh nhiệt đới nhưng do Thế chiến thứ hai bùng nổ nên ông không thể trở về. Trong thời gian này, ông mắc bệnh lao và phải điều trị dài hạn trong trại an dưỡng. Mãi đến năm 1947, ông mới tạm hồi phục và trở lại Paris[1]
  • Tại Pháp, ông nghiên cứu và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, phản đối chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tại Đông Dương. Ông là người lãnh đạo phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Ông thường xuyên viết bài giới thiệu Việt Nam, phê phán chủ nghĩa thực dân đăng trên các tạp chí vào báo nổi tiếng tại Pari “Tư tưởng” (La Pensée), “Tinh thần” (Esprit) Châu Âu (Europe), “Phê bình mới” (La nouvelle critique), “Tập san Cộng sản” (Cahiers du communisme), “Người quan sát” (L’Observateur), “Nước Pháp mới” (France nouvelle), “Thế giới ngoại giao” (Le monde diplomatique) dưới nhiều bút danh: Nguyễn Nghệ, Nguyễn Kiên ...
  • Năm 1963, ông về nước sáng lập và chủ biên tạp chí đối ngoại “Nghiên cứu Việt Nam” bằng tiếng Pháp và tiếng Anh (Etudes Vietnamiennes, Vietnam Studies) và làm Giám đốc Nhà xuất bản Ngoại văn (nay là Nhà xuất bản Thế giới)
  • Năm 1984, ông sáng lập và làm giám đốc Trung tâm nghiên cứu tâm lí trẻ em và tâm bệnh lí (trung tâm NT), xuất bản tờ “Thông tin khoa học tâm lí”, đặc biệt quan tâm đến những trẻ em bị rối loạn tâm trí do hoàn cảnh
  • Ông là người yêu nước nồng nàn, có nhiều tư tưởng tiến bộ về chính trị, văn hóa và giáo dục nhưng những đề nghị của ông không được nhà cầm quyền lưu ý [3]
  • Tháng 11 năm 1992, Nguyễn Khắc Viện được nhận giải thưởng Grand prix de la Francophonie của Viện Hàn lâm Pháp. Với tấm lòng yêu trẻ thiết tha, ông đã cống hiến phần lớn khoản tiền thưởng 400 000 francs (tương đương 80.000 USD) trong giải thưởng Grand prix de la Francophonie của Viện Hàn lâm Pháp tặng ông cho quỹ của Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em (Trung tâm N-T).
  • Năm 1997, Nhà nước Việt Nam trao tặng cho ông Huân chương Độc lập hạng nhất
  • Ngày 1-9-2000, Chủ tịch nước đã quyết định truy tặng Giải thưởng Nhà nước cho cuốn "Việt Nam, một thiên lịch sử".
  • Ngày 10 tháng 5 năm 1997, Nguyễn Khắc Viện qua đời. Thi hài ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội dành cho những danh nhân có công đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

  • Bản Kiến nghị bảy điểm
Đây là kiến nghị do ông viết và gửi Quốc hội,có nội dung tóm tắt gồm bảy điểm:
1 - Đường lối đề ra tiến lên sản xuất lớn XHCN, nhưng phải điều chỉnh lại để sản xuất nhỏ cũng có vị trí nhất định.
2 - Phải mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, trước hết là với các nước anh em đã có quan hệ lâu năm. Việc làm ăn với Liên Xô nên đàng hoàng, thân tình, cởi mở hơn, không để cho tinh thần chống chủ nghĩa xét lại khống chế một cách nặng nề.
3 - Ở các cấp có 2 bộ máy mà bộ máy Đảng đứng trên bộ máy Nhà nước thì bộ máy Nhà nước không thể có hiệu lực, không thể nào phát triển kinh tế, văn hoá được.
4 - Thưởng phạt phải nghiêm minh.
5 - Báo chí chỉ thông tin một chiều nên không phản ánh được dư luận của nhân dân. Chế độ kiểm duyệt quá sát sao, không cho đăng ý kiến của quần chúng nên đã dẫn đến những sai lầm.
6 - Đáng nhẽ khoa học xã hội phải đi trước một bước nhưng vì phải đợi chủ trương đường lối để minh hoạ nên chẳng đóng góp được gì xứng đáng.
7 - Đại hội lần thứ 2 của Đảng (1951) đã xác định đường lối cơ sở Đảng ta dựa trên căn bản chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông. Cần nghiên cứư lại tác hại của tư tưởng Mao Trạch Đông để xoá bỏ tàn tích của nó.
Trong bản kiến nghị có một câu về quyền bình đẳng trước pháp luật : “Không làm theo kiểu phong kiến: dân thì chịu hình pháp, quan thì xử theo lễ”.[2]
  • Ý kiến về nhân sự
Nghe tin Đảng định đưa nhà thơ Tố Hữu làm thủ tướng chính phủ, ông gặp trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Nguyễn Đức Tâm bầy tỏ ý kiến phản đối.
Trước Đại hội VI ông đã từng viết một lá thư gửi ông Tố Hữu, đại ý như sau : Trước kia, tôi rất mến phục tài thơ của anh, tôi thích thú một số bài thơ của anh và đã dịch những bài đó ra tiếng Pháp đưa ra quốc tế. Nhưng anh làm lãnh đạo chính trị, đặc biệt về văn hoá văn nghệ, rồi làm phó thủ tướng, làm kinh tế như thế này, không ai đồng tình, nhiều người oán trách, anh nên biết rõ. Dịp này anh nên tự nguyện rút lui, đừng ứng cử vaò Trung ương nữa, trở lại làm nhà thơ, chắc anh sẽ lại được lòng kính mến tài làm thơ của anh.[3]
http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100120