Thứ Ba, 14 tháng 1, 2020

1592 会話 1 - Âm Hán Nhật - Âm Hán Việt

船主殿御支給品リストの件。 Senshu tonogo shikyū-hin risuto no kudan (ken). List of items supplied by the shipowner. Danh mục vật tư cấp bởi chủ tàu.

senshuthuyền chủ: chủ tàu: shipowner

船主殿御: senshu tonogo: chủ tàu: shipowner

shikyūchi cấp: cung cấp: supply/ provide

支給: shikyū-hin: chi cấp phẩm: vật tư được cấp

リスト: list: danh mục

: kudan (ken): item: kiện (hàng) (bưu kiện)


アンテナ系納入確認。 Antena-kei nōnyū kakunin. Delivery confirmation of antenna system. Xác nhận bàn giao hệ thống ăng-ten. 

アンテナ: antena-keihệ (thống) ăng-ten

nyūnạp nhập: delivery: nhập hàng

kakuninxác nhận: confirmation/ verification/ affirmation


平素は大変お世話になっております。Heiso wa taihen osewa ni natte orimasu. Đây là câu kính ngữ mở đầu bức email kiểu như "Rất cảm ơn ngài đã luôn hợp tác với chúng tôi"

heisobình tố: vốn xưa, sự tình ngày trước

taihenđại biến: ở đây trong tiếng Nhật có nghĩa là "rất" (very)

お世話になっております: osewa ni natte orimasu: câu này mở đầu thư một cách lịch sự


今月より、弊社/齋藤から本船を引継ぎました横田と申します。Kongetsu yori, heisha/ Saitō kara honsen o hikitsugimashita Yokota tomōshimasu. Từ tháng này, tôi là Yokota (横田) nhận trách nhiệm với con tàu từ người cùng công ty/ ông Saitō (齋藤).

kongetsukim nguyệt: tháng này

より: từ (đây)/ từ (ngày đó)

heishatệ : our company: công ty chúng tôi

honsenbổn thuyền: tàu này: this ship

ぎます: hikitsugimasu: take over: dẫn kế: kế thừa

引継ぎる: hikitsugiru: take over: nhận bàn giao

引継ぎました: hikitsugimashita: took over

と申します: tomōshimasu: my name is: tôi tên là


今後ともどうぞ宜しくお願い申し上げます。Kongo tomo dōzoyoroshiku onegai mōshiagemasu. Câu này cũng là cách nói lịch sự với ý là: Từ nay về sau xin cảm ơn ông nhiều.

kongokim hậu: từ nay về sau: from now on


掲題に関しまして、Keidai ni kanshimashite, Regarding the title, Như tiêu đề của thư này,

keidaikhế đề: title: tiêu đề

しましてkanshimashite: regarding/ concerning: liên quan tới


以前齋藤よりお送りしておりました izen Saitō yori ookuri shite orimashita: before it had been sent you from Saitō: trước đây đã gửi cho ông từ ông Saitō
izen tiền: trước đây: before
齋藤より: Saitō yori: from Saitō: từ ông Saito
送ります: okurimasu: sẽ gửi: will send
送る: okuru: send: gửi
お送りしておりました: ookuri shite orimashita: I was sending you: đã gửi cho ông
お送り致します: send: gửi (nói kính ngữ)
お送りいただくものとなります: will be sent to you (kính ngữ): sẽ được gửi cho ông

船主殿御支給品リストを再度添付にてお送り致しますので、senshu tonogo shikyū-hin risuto o saido tenpu nite ookuri itashimasu node,: I will send the ship owner's supply list again as an attachment,: Tôi xin gửi lại một lần nữa danh mục vật tư cấp bởi chủ tàu như trong đính kèm,
船主殿御支給品リスト senshu tonogo shikyū-hin risuto: Goods list supplied by the shipowner: danh mục vật tư cấp bởi chủ tàu.
saidotái độ: một lần nữa: again/ twice/ second time
tenputhiêm phụ: đính kèm: attachment/ appended

御査収の程宜しくお願い致します。O sashū no hodo yoroshiku onegai itashimasu. Thank you for your review. Xin cảm ơn ông hãy xem kiểm tra lại.
の程: O sashū no hodo: tra thâu: xem lại (cả cụm nói kiểu kính ngữ)

下記項目先行してお送り頂くものとなりますので、Kaki kōmoku senkō shite ookuri itadaku mono to narimasu node,: The following items will be sent in advance,: Những hạng mục dưới đây sẽ được gửi cho ông,
kakihạ : sau đây/ dưới đây: following
mokuhạng mục: item
sentiến hành: thực hiện/ đi trước: going first/ preceding
先行して: in advance: (làm gì đó) trước

内貨にてメーカー殿と納品ご調整頂けますように宜しくお願い致します。naika nite mēkā-dono to nōhin go chōsei itadakemasu yō ni yoroshiku onegai itashimasu. xin cảm ơn ông, ông có thể phối hợp với các nhà sản xuất trong nội tuyến để điều chỉnh việc giao hàng dự định. Thank you for your coordination with the manufacturer in local relationship for adjusting the delivery.
naikanội hóa: tiền trong nước
内貨にて: In local currency: tính bằng tiền trong nước
メーカー殿: mēkā-dono: manufacturer: nhà sản xuất
hinnạp phẩm: nhập hàng: delivery
nyūnạp nhập: delivery: nhập hàng
調 chōsei: adjustment: điều chỉnh
ご調整 go chōsei: adjustment 
調整する chōsei suru: adjust 
調整します chōsei shimasu: adjust

ボトムシームラインがあるんで。There's a bottom seam lines.

上記ホーサーにつきましても、Jōki hōsā ni tsukimashite mo, Regarding the above hawser, Về những dây buộc tàu ở trên,
: jōki: thượng : ở trên

添付リスト記載の通り船主殿より御支給されるということで Tenpu risuto kisai no tōri senshu-dono yori o shikyū sa reru to iu koto de: It will be paid by the shipowner as described in the attached list: Được nói rằng sẽ được cung cấp bởi/ từ chủ tàu như đã mô tả trong danh sách đính kèm 
kisai: tái: description/ mention/ entry: mô tả/ ghi chép
記載の通り: kisai no tōri: as described 
船主殿より: senshu-dono yori: from the shipowner 
御支給される: o shikyū sa reru: will be supplied: sẽ được cung cấp
ということで: that means: ý là

ご変更ございませんでしょうか。Go henkō gozaimasen deshou ka. Is there any change?
henbiến cánh: thay đổi/ biến đổi

また、送付状況共有の為、各アイテムをご送付次第、Mata, sōfu jōkyō kyōyū no tame, kaku aitemu o go sōfu shidai,: In addition, in order to share the sending status, as soon as each item is sent,: Ngoài ra để chia sẻ tình trạng gửi hàng, mỗi hạng mục, ngay sau khi được gửi đi, 
また: in additional/ also/ prong: ngoài ra
: fu: sending/ forwarding/ remitting: tống phụ: việc gửi đi
kyō: status/ circumstance/ situation: trạng huống: tình trạng/ trại thái
kyō: share: cộng hữu: cùng sở hữu
の為 ~ の為に: for: (để) cho (ai)/ nhằm mục đích
送付状況共有の為: for sharing sending status: để chia sẻ (thông tin) trạng thái việc gửi (hàng)
アイテム: kaku aitemu: each items: các items: mỗi hạng mục
shidai: immediate: thứ đệ: ngay khi
ご送付次第: as soon as it is sent: ngay sau khi được gửi đi

invoice、packing list、B/L (Tracking No.)のPDFを方までお送り頂けますと幸甚です。no PDF o tōhō made ookuri itadakemasuto kōjindesu. We would be grateful if you could send us a PDF of invoice, packing list and B / L (Tracking No.). xin hãy gửi cho chúng tôi các bản PDF của những invoice, packing list and B / L (Tracking No.)
: đương phương
方まで: to us: (gửi) đến chúng tôi
jin: pleased/ obliged/ appreciative: hạnh thậm: rất vui

大変お手数をお掛け致しますが、宜しくお願い申し上げます。Taihen otesū o o kake itashimasuga, yoroshiku onegai mōshiagemasu. We apologize for any inconvenience, but thank you. Xin lỗi vì bất cứ sự phiền hà nào, nhưng chân thành cảm ơn.
te: thủ số: trouble: sự phiền toái.
大変お手数ですが。xin lỗi đã làm phiền ạ

表題の件にてメールを転送致します。Hyōdai no ken nite mēru o tensō itashimasu. I forward the email with the subject matter. Tôi gửi chuyển tiếp mail dưới về việc như trên biểu đề
: hdaititle: biểu đề: đầu đề
表題の件にて: hyōdai no ken nite: In the subject matter
ten: chuyển tống: forward: chuyển tiếp
転送します tensō shimasu
転送する tensō suru

転送致します tensō itashimasu

お手配のほど宜しくお願いします。O tehai no hodo yoroshiku onegaishimasu. Thank you for your arrangement. Đề nghị hãy sắp xếp.
: tehai: thủ phối: xếp đặt/ xắp xếp/ bố trí/ phân phối
お手配: arrangement: xếp đặt/ bố trí
お手配のほど: about arrangement: về việc bố trí xắp đặt

転送されたメッセージ: Tensō sa reta messēji: Messages forwarded: Thư chuyển tiếp:

本件、承知しました。Honken, shōchi shimashita. I understand this case. Tôi đã nhận được trường hợp này.
: honken: in this case: bản kiện: chuyện này
shōchi: acknowledgment: thừa tri: thừa nhận
承知する: understand

本件、ご連絡を有難うございました。Honken, go renraku o arigataugozaimashita. Thank you for contacting us on this matter. Cảm ơn (ông) đã liên lạc về vấn đề này.
go renraku: contacting: liên lạc

関係部署に展開させて頂きます。Kankei busho ni tenkai sa sete itadakimasu. Will be deployed to relevant departments. Tôi sẽ triển khai tới các bộ phận liên quan.
: kankei: relationship/ relation/ connection/ connexion/ rapport: quan hệ
: busho: department/ duty station: bộ thự 
関係部署: bộ phận liên quan
tenkai: deployment/ expansion: triển khai 

引き続き宜しくお願い致します。Hikitsudzuki yoroshikuonegaiitashimasu. Please continue to give us your support. Chúng tôi luôn mong đợi sự tiếp tục giúp đỡ.
引き続き: continue

下記造船所からの連絡でアンテナ関係の納入は1月上旬と記載ありますが Kaki zōsensho kara no renraku de antena kankei no nōnyū wa 1 gatsu jōjun to kisai arimasuga: According to the notification from the shipyard below, delivery related to antennas is stated as early January: Như ở dưới liên lạc với nhà máy đóng tàu, việc cung cấp hệ thống ăn-ten vào đầu tháng 1 như đã nói đến.
sensho: shipyard: tạo thuyền sở: nhà máy đóng tàu
renraku: contacting: liên lạc
jun: early/ first 10 day of month: thượng tuần: đầu tháng
kisai tái: description/ mention/ entry: mô tả/ ghi chép

前回と同様に海上試運転の一週間前の納入が良いでしょうか。Zenkai to dōyō ni kaijōshiunten no isshūkanmae no nōnyū ga yoideshou ka. Is it good to deliver one week before sea trials as before? Có tốt không nếu cũng cung cấp 1 tuần trước khi chạy thử tàu giống như lần trước?
: zenkai: last time/ last installment/ last session: tiền hồi: lần trước
: as well/ same/ like/ equal to: đồng dạng: như
kaishiunten: sea trial run: chạy thử tàu: hải thượng thí vận chuyển
前: isshūkanmae: one week before: nhất tuần gian tiền: một tuần trước khi
nyūnạp nhập: delivery: nhập hàng

その方が良いのであれば造船所に連絡します。Sonokata ga yoi nodeareba zōsensho ni renraku shimasu. If it is better, contact the shipyard. Nếu như vậy là tốt hơn thì liên lạc với nhà máy đóng tàu.
その方が: Sonokata ga: That one: Việc đó/ Cái đó
良いのであれば: yoi nodeareba: if good: nếu tốt
その方が良いのであれば: Sonokata ga yoi nodeareba: If that's better: Nếu như vậy là tốt hơn

本船の海上試運転予定日は下記の予定となっています。Honsen no kaijōshiunten yotei-bi wa kaki no yotei to natte imasu. The scheduled date of the ship's test run at sea is as follows. Ngày dự định chạy thử tàu của con tàu này là theo như kế hoạch dưới đây.
日: yotei-bi: định nhật: scheduled date/ expected date: ngày dự kiến 

アンテナとラックについては、レンタル費用が発生するので出来ればそうしていただけると助かります。Antena to rakku ni tsuite wa, rentaru hiyō ga hassei suru node dekireba sōshite itadakeru to tasukarimasu. For antennas and racks, rental costs will be incurred, so it would be helpful if you could do so. Về việc ăn-ten và giá đỡ, bởi vì chi phí thuê (lưu kho) sẽ phát sinh, nên nếu có thể (giao hàng) như đã định thì sẽ tốt.
hi: cost/ expense: phí dụng: chi phí
hassei: outbreak/ occurrence: phát sinh
発生する: appear
ので: Because
出来れば: dekireba: If possible
そうして: then
いただけると助かります: itadakeru to tasukarimasu: It would be helpful if you could

その他の配線ケーブルなどは購入となるので、Sonohoka no haisen kēburu nado wa kōnyū to narunode, Other wiring cables etc. will be purchased, Bởi vì những thứ khác như là cáp dây điện etc. sẽ được mua,
その他: sonohoka: other/ otherwise
haisen: wiring: đường dây: phối tuyến
配線ケーブル: haisen kēburu: wiring cable: cáp (điện) đường dây
など: such: như là
配線ケーブルなど: wiring cable, etc.
その他の配線ケーブルなど: other wiring cables, etc.
入: nyū: cấu nhập: purchase/ buy: mua
購入する: purchase

いつも通り先行して造船所が指定する期日で送付したいと思います。Itsumodōri senkō shite zōsensho ga shitei suru kijitsu de sōfu shitai to omoimasu. As usual, I would like to send it ahead of time on the date specified by the shipyard. Tôi nghĩ là tôi muốn gửi (hàng) đến trước kỳ hạn (ngày) do nhà máy đóng tàu chỉ định như thông thường (vẫn làm)
いつも通り: itsumodōri: as usual: như thông thường/ như mọi khi
行して: senkō shite: in advance: tiên hành
造船zōsensho: tạo thuyền sở: cơ sở đóng tàu: shipyard 
所: shiyakusho: thị dịch sở: tòa thị chính thành phố: city hall
する: shitei suru: specify: chỉ định
kijitsu: deadline/ fixed/ settlement date: kỳ nhật: ngày đến hạn (hẹn)

本船の竣工前準備進めます。Honsen no shunkō zen junbi susumemasu. Preparations will be made before the completion of the vessel. Việc chuẩn bị sẽ được thực hiện trước khi hoàn thành con tàu này.
honsenbổn thuyền: tàu này: this ship
工前準shunkō zen junbi: thuân công tiền chuẩn bị: việc chuẩn bị trước khi đóng tàu xong (có thể là việc khác cũng dùng từ 竣工): Preparation before completion
進めます: susumemasu: proceed: tiến hành

引き続き、よろしくお願いします。Hikitsudzuki, yoroshikuonegaishimasu. Thank you, continue.

高圧洗浄機設置場所 Kōatsu senjō-ki setchi basho High pressure washing machine installation place: nơi lắp đặt máy rửa nước cao áp 
: kōatsu: cao áp: high pressure
機: sen-ki: tẩy tịnh cơ: máy rửa sạch
高圧洗浄機: máy rửa nước cao áp: high pressure washing machine
置: setchi: thiết trí: installation: lắp đặt
設置する: install
basho: trường sở: nơi/ chỗ/ vị trí

表題につきましてデッキハウスに440Vの電源取口があると思いますが Hyōdai ni tsukimashite dekki hausu ni 440 V no dengen torikuchi ga aru to omoimasuga: Regarding the title, I think there is a 440V power outlet in the deck house: Như đầu đề của mail, Tôi nghĩ là ở trong "deck house" có ổ cắm nguồn điện 440V 
hdaititle: biểu đề: đầu đề
表題につきまして: About the title
デッキハウス: deck house
取口: dengen torikuchi: điện nguyên thủ khẩu: power outlet: ổ cắm điện

それに合わせて高圧洗浄機を設置しようと思います。Sore ni awa sete kōatsu senjō-ki o setchi shiyou to omoimasu. I would like to install a high pressure washer accordingly. Theo đó, tôi nghĩ là tôi dự định sẽ lắp đặt máy rửa nước cao áp (tại đó)
それに合わせて: sore ni awa sete: according to it

つきましてはデッキハウス扉のサイズをご教示ください。Tsukimashiteha dekki hausu tobira no saizu o go kyōji kudasai. Please tell us the size of the deck house door. Bởi thế xin hãy bảo cho tôi kích thước cửa của deck house
つきましては: Therefore: do vậy/ từ đó/ bởi thế
扉: tobira: door: cửa
デッキハウス扉のサイズ: size of the deck house door: kích thước của cửa deck house
kyōji: teaching: dạy/ cho biết/ bảo cho: giáo thị
教示する: teach
ご教示ください: please kindly advise

それに合わせて購入、サイズをご連絡致します。Sore ni awa sete kōnyū, saizu o go renraku itashimasu. According to the purchase, please inform the size. 
入: nyū: cấu nhập: purchase/ buy: mua
購入する: purchase
renraku: contacting: liên lạc 
連絡する: contact

設置につきまして固縛用のアングルを溶接してもらう事は可能でしょうか。Setchi ni tsukimashite kobaku-yō no anguru o yōsetsu shite morau koto wa kanōdeshou ka. Is it possible to have the fixing angles welded for installation? Về việc lắp đặt, không biết có thể làm được việc hàn bộ giá sẵn để cố định máy móc?
置: setchi: thiết trí: installation: lắp đặt
設置する: install
設置につきまして: about installation
用: kobaku-yō: for securing: cố phược dụng: dùng trói buộc kiên cố
固縛用のアングル: angle for securing: (cơ cấu) góc dùng trói buộc kiên cố (máy rửa nước cao áp): cơ cấu để secure cái máy rửa nước cao áp
setsuwelding: dong tiếp: phương pháp nối bằng cách nung chảy: hàn nối
溶接する: weld
ka: possible/ feasible/ practicable: khả năng

アンテナ関係の納入は1月上旬と記載ありましたが Antena kankei no nōnyū wa 1 tsuki jōjun to kisai arimashitaga: Antenna-related delivery was stated in early January: Như đã ghi chép (kí tái) việc nhận (nạp nhập) hệ thống ăn-ten (quan hệ) vào đầu tháng 1 (thượng tuần tháng 1) 
jun: early/ first 10 day of month: thượng tuần: đầu tháng

kisai tái: description/ mention/ entry: mô tả/ ghi chép

アンテナとラックについてはレンタル料金が発生する為、Antena to rakku ni tsuite wa rentaru ryōkin ga hassei suru tame, Rental fees will be charged for antennas and racks, Về Ăn-ten và giá đỡ, bởi vì (sẽ) phát sinh chi phí thuê (kho),
金: ryōkin: price/ charge/ fee/ fare: liệu kim: chi phí
: ryōri: cuisine/ cooking: liệu : món ăn
hassei: outbreak/ occurrence: phát sinh

発生する: appear
レンタル料金が発生する為、because a rental fee occurs,

前回と同様に海上試運転の一週間前の納入が良でもよろしいでしょうか。Zenkai to dōyō ni kaijōshiunten no isshūkan mae no nōnyū ga yo demo yoroshīdeshou ka. Is it OK to deliver one week prior to sea trials as before? Như lần trước, việc nhập hàng (hệ thống ăn-ten) (thực hiện) 1 tuần trước khi thử tàu là tốt, nhưng (lần này nhập đầu tháng 1) có được không?
zenkai: last time/ last installment/ last session: tiền hồi: lần trước
: as well/ same/ like/ equal to: đồng dạng: như
kaishiunten: sea trial run: chạy thử tàu: hải thượng thí vận chuyển
前: isshūkanmae: one week before: nhất tuần gian tiền: một tuần trước khi

nyūnạp nhập: delivery: nhập hàng

配線、ケーブル等は御社が指定される期日でお送り致します。Haisen, kēburu-tō wa onsha ga shitei sa reru kijitsu de ookuri itashimasu. Wiring, cables, etc. will be sent on the date specified by your company. Những thứ khác như là dây điện, etc. sẽ được chuyển đến theo kỳ hạn được chỉ định bởi quý công ty.
haisen: wiring: đường dây: phối tuyến
配線、ケーブル等: wiring, cable, etc.
kijitsu: deadline/ fixed/ settlement date: kỳ nhật: ngày đến hạn (hẹn)
社: onsha: your company: quý công ty: ngự
定: shitei: assignment/ specification: chỉ định
指定します specify
指定する
指定される it is specified

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2020

Âm thuần Nhật - Âm Hán Việt - Âm Hán Nhật 1

一: ひとつ: one: một
: one day: một ngày: nhất nhậtいちにち 

音:おと: sound/noise: âm
: musics: âm nhạcおんがく

雨:あめ: rain: mưa
: weather: mưa gió: phong : ふう 

羽:はね: wing/ feather: cánh/ lông
: growing wings and flying: con nhộng mọc cánh chui ra khỏi kén: hóa:  

雲: くも: cloud: mây
: cloud beads: hạt (ngọc trai) mây: vân châu: うんじゅ 

引く: ひく: play/ draw/ pull/ subtract/ tow: kéo/ chơi
: catching fire: dễ bắt lửa: dẫn hỏa: いん 
引き続き hikitsudzuki: continue: dẫn tục: tiếp tục
引き出す hikidasu: withdraw/ draw out/ pull out/ take out

王: おう: king/ prince/ monarch/ sovereign/ potentate: vương
: throne/ crown: vương vịおう 

遠: とおい: far/ distant: xa
: distal: xa: viễn vị: えん 
: farsightedness: viễn thị: えん 
: enryo: viễn lự: lo xa: refrain/ providence/ precaution/ caution/ forethought/ farsightedness/ foresight/ long-sightedness

原発ゼロに再稼働STOP!Genpatsu zero ni sai kadō STOP! Restart to zero nuclear power plant STOP! 
GenpatsuNguyên phátnuclear power plant: Nhà máy điện nguyên tử
原発ゼロに再稼働止まれ!Genpatsu zero ni sai kadō STOP! Stop restarting at zero nuclear power! 
sai ka: Tái giá độngRestart: Khởi động lại

Ri: use/ utilization/ application: lợi dụng
利用する 

園: その: garden/ park
: Kōen: công viên: park
芸: Engei: viên vân: Gardening: làm vườn
園芸店: Engei-ten: Gardening shop: Viên vân điếm: cửa hàng bán đồ làm vườn

夏: なつ: summer
夏休み Natsuyasumi: summer vacation
季休暇 Kaki kyūka: summer vacation: hạ quý hưu hạ: kỳ nghỉ mùa hè

科: か: section
学技術 Kagaku gijutsu: Science and technology: khoa học kĩ thuật

歌: うたう: sing
Kashi: lyrics: ca từ: lời bài hát

画: えがく: picture
Gazō: họa tượng: image: hình ảnh
Eiga: ánh họa: movie: phim điện ảnh
Keikaku: kế hoạch: plan/ project/ schedule

具: ぐ: tool
体的に Gutaitekini: Specifically/ concretely/ definitely: cụ thể đích: nói một cách chính xác cụ thể không suy chuyển...
gu: đạo cụ: tool/ implement/ means: dụng cụ

後: あと: after
hai: junior: hậu bối
先輩 Senpai: senior: tiền bối

会: あう: meet
Kaijō: venue/ assembly hall/ meeting place: hội trường
Kaigi: meeting/ conference: hội nghị

絵 え: picture
Kaiga: painting: hội họa

間: あいだ: while/ time/ interval/ space/ chamber
Kankaku: interval/ space: gián cách: giãn cách
kan: space/ airspace/ room/ vacant room: không gian
間に合う Maniau: in time/ be in time: kịp giờ
間に合わない Maniawanai: Not in time: không kịp giờ

活: いきる: activity
Katsudō: activity/action: hoạt động
Seikatsu: life/ living/ lifehood: sinh hoạt: cuộc sống

Benkyō: study/ discount/ diligence/ reduction: miễn cưỡng: học tập
Kyōdo: Strength: cường độ: sức mạnh

原: はら: raw/ original/ primary
Gen'in: cause/ causing/ source: nguyên nhân
Gensoku: principle/ general rule: nguyên tắc
Gensaku: original work: nguyên tác

形: かたち: form/ shape/ type
容詞 Keiyōshi: adjective: hình dong từ: tính từ
Keishiki: format/ form/ formality/ math expression: hình thức: hình mẫu
Keijō: shape/ form: hình trạng: hình dạng/ hình thù

顔: かお: face/ look/ features
Ganryō: pigment/ colorant/ colourant: nhan liệu: thuốc màu/ chất tạo màu

校: こう: school/ proof
chō: head teacher/ principal: hiệu trưởng
Gak: school: học hiệu: trường học
sei: proofreading/ correction of press: hiệu chính

考: かんがえる: think/ conceive/ consider/ view
satsu: consideration/ inquiry/ enquiry: khảo sát
kyū: study: khảo cứu

黄色い: きいろい: yellow
昏 Tasogare: twilight/ sunset: hoàng hôn: chạng vạng
Kogane: gold/ golden: hoàng kim

算: そろ: Arithmetic
Sansū: Arithmetic: toán số
Sanshutsu: calculation/ computation: toán xuất

作る: つくる: create/ make
Sakusei: create/ making/ drawing up: tác thành
Sagyō: work/ operation/ manufacturing: tác nghiệp
Sakuhin: work/ production/ opus/ performance: tác phẩm
Sakusha: author: tác giả

才: さい: age
Sainō: talent/ ability/ aptitude: tài năng

細: ほそい: thin
Saibō: cell/ fraction: tế bào
Saikin: bacteria/ bacterium/ germ/ bacillus: tế khuẩn: vi khuẩn

紙: かみ: paper
Shihei: bill/ note/ paper money: chỉ tệ: tiền giấy
紙袋 Kamibukuro: paper bag: túi giấy


Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2019

Happy new year tiếng Nhật

良いお年をお迎えください。Yoiotoshiwo omukae kudasai. Happy new year. (nói vào tháng 12)
明けましておめでとうございます。Akemashiteomedetōgozaimasu. Happy new year. (nói vào tháng 1)


今年もよろしくお願いします。

Kotoshimoyoroshikuonegaishimasu. Happy new year. (nói vào tháng 1, nói sau câu trên)


百花蜜 Hyaku hana mitsu Bách hoa mật
国内産 Koku nai san Quốc nội sản 
海防から来ました。Kaibō kara kimashita. Tôi đến từ Hải Phòng.

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2019

Chúa Trời là ai?

Nguyễn Văn Chuyên: CHÚA TRỜI KHÔNG BAO GIỜ DÁM LỞN VỞN QUANH "HỐ ĐEN".

Dương Quốc Tuấn: Không tin thì cũng ko nên xúc phạm nha bạn.

Nguyễn Văn Chuyên: Bạn bị nhầm lẫn hay sao vậy ? có ai bị xúc phạm ở đây đâu.

Dương Quốc Tuấn: Ko nên nhắc đến Chúa một cách vô cớ. Tôi ko muốn tranh cải với bạn nên chỉ nói vậy thôi. Mong bạn hiểu.

Nguyễn Văn Chuyên: Tôi cũng không tranh cãi với bạn, chúa chỉ là một cái tên và tôi thích nhắc đến khi nào tôi muốn.

Dương Quốc Tuấn: Okie bạn, địa ngục sẽ đón bạn nha.

Nguyễn Văn Chuyên: Địa ngục ngay ở trong tâm hồn mỗi người khi não của người đó khởi một ác niệm một tà niệm.

Dương Quốc Tuấn: Ko nhìn thấy sự nhân lành và phủ nhận ơn cứu độ thì tâm có hay ko?

Nguyễn Văn Chuyên: Nhân lành ở cứu độ, còn ơn cứu độ bạn có quyền nhận hoặc từ chối nhận nhưng không vì từ chối mà tâm không có, có tâm hay không còn do tâm ấy khởi từ đâu?

Dương Quốc Tuấn: Vô thần thì biết gì mà tâm?

Nguyễn Văn Chuyên: Vô thần không đồng nghĩa với vô tâm, không thần thánh, không ma quỷ vẫn có tâm linh như thường.

Dương Quốc Tuấn: Vô thần mà còn tâm linh cm gì?

Nguyễn Văn Chuyên: Bạn bị nhầm lẫn nhiều quá. Khi linh hồn rời khỏi thân xác nó hoàn toàn tự do tự tại sẽ có 1 linh làm trung tâm không phụ thuộc vào cái anh Thần linh nào cả, chỉ có những linh hồn lệ thuộc vào mấy anh Thần linh mới cần thần chăn dắt thôi.

Dương Quốc Tuấn: Thuyết thuật của ma quỷ!

Hà Nam Ninh: Khi bạn coi Chúa God là một nhân vật cụ thể thì bạn sẽ thấy ai đó đang xúc phạm Chúa God.
Nhưng theo tôi hiểu thì Chúa chính là Tạo Hóa, là sức mạnh của Tạo Hóa, và vì vậy Lỗ Đen cũng chính là Chúa God.
Thế thì ai mà xúc phạm được Chúa God chứ.
Và vì Chúa là Tạo Hóa nên Địa Ngục cũng là Chúa.

Dương Quốc Tuấn: Chúa là tạo hoá ma quỷ cũng từ Chúa tạo ra và địa ngục cũng vậy.

Nguyễn Văn Chuyên: Tâm ma là tâm ảo, tâm quỷ là tâm ác, chỉ đường tỏ không sáng, trong sương mù lại mê.

Hà Nam Ninh: Chúng ta nên kính trọng Chúa (Tạo Hóa) và đảnh lễ trước Chúa (Tạo Hóa). Những kẻ muốn chinh phục sức mạnh của Thiên Nhiên (Tạo Hóa) để phục vụ lợi ích của cá nhân, của nhóm hay của quốc gia thì sớm muộn cũng sẽ bị Tạo Hóa trừng phạt.
Làn gió mát lúc bình minh cũng là Chúa, Ánh sáng ban mai cũng là Chúa, và đương nhiên Bão Katrina là Địa Ngục cũng là Chúa.

Dương Quốc Tuấn: @ Nguyễn Văn Chuyên, có lẽ suy nghĩ và hiểu biết của bạn đã vượt xa nhân loại này rồi đó.
@ Hà Nam Ninh, đúng vậy!

Nguyễn Văn Chuyên: @ Dương Quốc Tuấn, Đó là suy nghĩ thông thường mà ai cũng có thể có, não không chứa thứ này chắc phải chứa thứ khác...

Nguyễn Văn Chuyên: Những kẻ muốn chinh phục sức mạnh của Thiên Nhiên (Tạo Hóa) để phục vụ lợi ích của cộng đồng hoặc lợi ích cá nhân nhưng không hại đến cộng đồng và không đảnh lễ trước chúa thì Tạo hóa sẽ ủng hộ 100%.
@ Hà Nam Ninh, Sự gán ghép hoàn hảo, nhưng chẳng qua mắt được sự thật chân lý.

Hà Nam Ninh: Tôi hiểu ý của bạn! Tuy nhiên đừng nên "chinh phục" Tạo Hóa, mà nên dùng từ "thuận theo" tạo hóa.
Ví dụ:
- Làm đê chặn dòng chảy của sông làm thủy điện là "phản Tạo Hóa" là "chinh phục" Tạo Hóa - Sẽ lãnh chịu hậu quả.
- Dùng "turbin" gió để tạo ra điện là "thuận theo" hoặc "nương nhờ" TẠO HÓA - sẽ bình yên vui vẻ.

Nguyễn Văn Chuyên: Chinh phục không có gì là sai, chỉ là nên hiểu biết rõ tự nhiên để đừng phá hoại, vì phá hoại lại làm hại đến chính những kẻ muốn chinh phục.
Thủy điện cũng vẫn tốt, chỉ là đừng lạm dụng phương pháp lấy năng lượng đó.

Hà Nam Ninh:
- Tôi cho rằng "chinh phục" vẫn không nên dùng, vì khi đó có thể sẽ gây hiểu lầm rằng "con người sẽ mạnh HƠN TẠO HÓA" - trong khi con người chỉ là một thành tố của TẠO HÓA.

- Thủy Điện sẽ đúng nếu: Ưu tiên chữ THỦY, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cho chữ THỦY trước, ĐIỆN chỉ là ăn theo thì như vậy mới là "nương nhờ" TẠO HÓA.

Nguyễn Văn Chuyên: Những hiện tượng thiên nhiên được các tộc người khác nhau gán ghép với vô số các vị thần vị thánh nhưng tất cả cũng lộ ra bản chất trước những khám phá của loài người.

Hà Nam Ninh: Chuyện mê tín dị đoan có thể xuất phát từ 1 trong 2 luận điểm:
- Kẻ u mê gán ghép sức mạnh TẠO HÓA cho những vị THẦN cụ thể.

- Người KHÔN hiểu được sức mạnh TẠO HÓA, nhưng không biết giải thích thế nào đành phải gán ghép cho những vị THẦN tưởng tượng. Nhưng tai hại là kẻ hậu sinh lại lợi dụng việc đó phục vụ cho mục đích chính trị.

Nguyễn Văn Chuyên: Tín ngưỡng thờ các thần là một sáng tạo vĩ đại của các tộc người thủa sơ khai, nó tách loài người ra khỏi thế giới loài vật, nhưng tín ngưỡng cũng giống như sự vĩ đại của thời kỳ đồ đá nếu các tộc người cầm chắc đá trong tay thì giờ chúng ta cầm không phải là smartphone.

Hà Nam Ninh: TẤT thảy mọi thứ đều đã có sẵn nhờ TẠO HÓA, việc hái trái cây hay cầm cục đá hay lọc cọc bàn phím hôm nay chẳng qua chỉ là việc "nương nhờ" vào tính tò mò của con người trong cái Não của TẠO HÓA mà thôi.

Nguyễn Văn Chuyên: Tính tò mò não của tạo hóa.

Trí tuệ chinh phục vô tri và cả hai là các phần của tạo hóa.

Mỹ Dũng: Con người phát minh ra các loại tôn giáo. Rồi họ tự biến mình thành nô lệ cho nó.

Hà Nam Ninh:
* Con người 1 = MINH TRIẾT biết rõ về sức mạnh của TẠO HÓA, nên kính ngưỡng tạo hóa, từ đó phát minh thành Tôn Giáo. Người MINH TRIẾT không bao giờ làm nô lệ cho tôn giáo. Họ dùng tôn giáo để làm phương tiện thể hiện lòng kính ngưỡng tới sức mạnh của THIÊN NHIÊN.
* Con người 2 = LƯU MANH có thể hiểu rõ về sức mạnh của thiên nhiên, có thể không. Nhưng cố tình biến tôn giáo thành một thứ để phục vụ mưu đồ chính trị.
* Con người 3 = U MÊ không hiểu biết, thiếu khả năng độc lập tư duy, dễ dàng bị kẻ khác lòe bạp, lầm tin vào mê tín dị đoan trở thành NÔ LỆ của Tôn Giáo.

Đức Huỳnh Phú Sổ là người khai sinh ra Phật Giáo Hòa Hảo, và là người sáng lập đảng Dân Xã, với triết lý đạo không tách rời đời sống và vận mệnh dân tộc qua câu nói nổi tiếng của ông, “Đời không đạo, đời vô liêm sỉ. Đạo không đời, đạo biết dạy ai?”

“Đời không đạo đời vô liêm sỉ, đạo không đời đạo biết dạy ai?” - Câu này đúng không sai.
Tuy nhiên, cũng nên phân biệt rõ ràng giữa "Đạo Đời" và "Đạo Tu". Chính vì mập mờ khái niệm nên các thế lực chính trị luôn luôn lợi dụng được Tôn Giáo.
Đạo Đời là đạo để dạy Đạo Đức cho người sống trong đời.
Đạo Tu là con đường dành riêng cho người tu hành. Thời Đức Phật Thích Ca còn sống, Ngài dạy Đạo Tu cho đệ tử "Tu Làm Sao để Giải Thoát Ngay Trong Kiếp Này".
Sau khi người đệ tử cuối cùng của Phật Thích Ca qua đời thì cái Đạo Tu đó cũng không còn nữa. Lúc đó Đại Thừa mượn danh Phật để truyền bá cái họ muốn truyền, và từ đó cái gì cũng bắn lên mồm của Phật Thích Ca.

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2019

Ông Giáo à! Cậu Vàng lại thắng rồi!

 VIỆT NAM
HỒNG KÔNG 


 Xuống đường 

 Vì muốn làm người
 Xuống đường

 Vì ngáo đá


Ông giáo ạ! Cậu vàng vô địch rồi! Ban Tuyên Giáo Trung Ương lại tiếp tục có thành tích để vỗ về đàn bò ngoan ngoãn nhai cỏ trong máng tẩm chất độc!
Trong lúc đàn bò đang ngáo đá thì ở bên kia bờ đại dương tay "gangster" khét tiếng Đỗ Nam Trung đang đe dọa bóp chết WTO khiến cho tên Béo phương Bắc "đũa" càng ngày càng ngắn!


(Sưu tầm) Đi săn phải có cáo chồn.
Xi-gêm phải có cái ồn mới vui.

(Chế Lan Viên) Lũ chúng con ngủ trong giường chiếu hẹp.
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con.

(Chế thơ Tản Đà) Dân 90 triệu ai người lớn?
Nước 4000 năm vẫn trẻ con.

1/ Chánh phủ thì bản chất xã hội đen, bảo kê và chống lưng cho tư bản dã thú.
2/ Doanh nhân thì dựa vào sự bảo kê của chánh quyền để trục lợi, tàn phá đất nước.
3/ Dân thì như một đàn ngáo đá bị kéo vào những trò tiêu khiển rẻ tiền.

Hôm trước có đọc một bài viết của tay Take the 1st Red Bill hắn viết một cái tựa là "Phụ nữ là giống loài dễ dàng bị sai khiến". Hắn viết rất dài và dẫn dắt rất khéo léo và khiến cho hàng đống những thanh niên tung hô. Nhưng túm lại nội dung hắn viết rằng:
1/ Truyền thống bản năng đàn ông là ra ngoài đi săn. Phụ nữ ở nhà để chăm sóc gia đình. Vì vậy phụ nữ có nhu cầu phải có đám đông vây quanh.
2/ Từ đó suy ra phụ nữ rất sợ cô đơn.
3/ Vì vậy chỉ cần tách phụ nữ ra khỏi bày đàn của họ và đưa họ vào cái khung bó hẹp do bạn tạo ra thì lúc đó phụ nữ sẽ phải phục tùng bạn hoàn toàn.

Tuy rằng tay viết bài này có vẻ là phát-xít và hoang tưởng. Nhưng thiết nghĩ là không phải không có lý.

Nghĩ sâu xa thêm hơn, và quan sát những gì đang diễn ra, thì ta nhận thấy một điều: KHÔNG CHỈ riêng phụ nữ, mà ngay kể cả giống đực, nếu không có TRI THỨC thì cũng chỉ là một bày đàn hoàn toàn dễ dàng bị dắt mũi.

Hơn 20 năm trước, đi dự một thảo về chuyên đề Kinh Tế, chỉ đi nghe cho vui, chứ hoàn toàn mù tịt. Lúc đó gặp giáo sư Ohno Kenichi 大野健一 GRIPS Viện Nghiên Cứu Chính Sách 政策研究大学院大学. Ông ấy nói với các vị ứng viên tiến sĩ đang vây quanh. VN của các bạn đang trên đà phát triển. Chỉ 20 năm nữa thành một nước công nghiệp phát triển ngang hàng với các nước trong khu vực. Giờ đây sau 20 năm - thực tế gì đây? Không lẽ một giáo sư uy tín hàng đầu của Nhật mà cứ chém bừa vậy sao? Hôm rồi, một cháu bé đang là sinh viên của trường Lập Mệnh Quán Châu Á Thái Bình Dương 立命館 APU cũng lại nói rằng giáo sư đáng kính cực giỏi của cháu nói VN là đất nước đang phát triển, sẽ sớm thôi VN sẽ trở thành một nước phát triển ngang tầm quốc tế!

Haizz... đến lần thứ 3 nghe được câu này, lúc đó mình theo ông bà tổ tiên là vừa. "Em ơi có bao nhiêu 60 năm cuộc đời"

Cùng thời điểm đó hơn 20 năm trước, Nhân (giọng Nam kỳ) lúc đó mới chuyển từ Táo Dục sang làm Phó Tướng, - hắn cũng sang Nhật chơi, - hắn tổ chức gặp mặt lưu học sinh, ka ka... hắn nói y chang như dzậy trước mặt cả trăm ứng viên tiến sĩ "Đất nước ta đang trên đà phát triển, các bạn là nguyên khí quốc gia, hãy gắng làm nghiên cứu cho tốt rồi về xây dựng tổ quốc cho xứng tầm thời đại".

Giờ hắn về Sài Gòn, loay hoay giải quyết đất Thủ Thiêm mãi không được, và được dân tung hô hắn là "Tiện Nhân". Cái bọn ứng viên tiến sĩ hồi đó giờ ku nào cũng mua được học hàm PGS hết rồi.

- Bẩm Ngọc Đế, bao nhiêu lâu nữa chúng con đến được CNXH?
- Không xa, 10km nữa thôi...
Ka ka...

Nhớ hồi bé, cứ nghe đài lải nhải "chúng ta đang ở trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH". Oạch... 
Khoảng đến năm 25 tuổi thì nghe chúng nó sửa lại là "chúng ta đang trong giai đoạn đầu tiên của thời kỳ quá độ... bla... bla..."
Mới vài năm trước, lại nghe gã "một đít 2 ghế" lảm nhảm cái giọng lè nhè rằng "chúng ta đang đi những bước đầu tiên của giai đoạn đầu tiên... bla... bla..." 
Ui chài ơi!
Có vài xen-ti-mét mà đi những mấy chục năm trời! Vậy 10km thì đi tới khi nào ta?
Lảm nhảm tiếp "có bao giờ được như thời nay chưa?"

Còn nếu muốn nói về sự bất lực của đoảng thì có thể kể bắt đầu từ ông Kim Ngọc, (trước Kim Ngọc chưa có điển hình). Năm 1966, ông Kim Ngọc đã nhận thấy cái trò Kinh Tế XHCN là một trò vớ vẩn. Ông ấy đem khoán ruộng cho dân. Thế là bọn Lê Duẩn + Lê Đức Thọ quy cho ông ta tội phản băng đoảng, bắt bỏ tù. Ông ấy tự vẫn trong tù năm 1979 với dòng chữ "#ĐMCS! Bố mày có tội hay không sau này dân sẽ phán quyết!"
Sau đó đoảng cũng không biết làm gì để có cơm ăn, không lẽ lại cứ tiếp tục bốc "shit"+lá xoan bỏ vào mồm. Đoảng đành "mắt nhắm mắt mở" để kệ cho các tỉnh Nam Bộ khoán ruộng cho dân. Thời điểm đó, gia đình ông Tuấn Búa cũng đã nhận ra là họ bị CS lừa về XD Đất Nước, mà cho về, để lấy tiền, chứ không cho mần gì hết.

Làm chui mãi cũng không được, đành phải cụ thể hóa bằng Luật Khoán 10 năm 1986. Bắt đầu từ đó, mọi việc Tư Bản đều là đoảng cho đứa nào làm thì đứa đó được làm, còn lại thì đứa nào không được làm thì vẫn cứ phải bốc "shit" mà ăn.

Bạn tui nó mắng tui: "mày mần chi cho nó tốt lên đi, chứ nói như rứa thì ai chẳng nói được."
Phải rồi! ờ, để tôi đi coi xem có ai cần đi di tản, tôi thuê chuyên cơ cho họ đi nhờ...

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019

từ vựng linh tinh

1菅原汽船株式会社。Sugawara kisen kabushikigaisha. 日本郵船株式会社。Nippon'yūsen kabushikigaisha. 商船三井本社。Shōsenmitsui honsha.
汽船 Kisen Steamship Khí thuyền
郵船 Yūsen Bưu thuyền
2新造船竣工式参加について。 Shin zōsen shunkō-shiki sanka ni tsuite. = About new shipbuilding completion ceremony participation.
新造船 Tân tạo thuyền
竣工式 Shunkō-shiki Thuân công (thành công) (nghi) thức
参加 Sanka Tham gia
3お疲れ様です。Otsukaresamadesu. 
本日の検査レポートを報告致します。 Honjitsu no kensa repōto o hōkoku itashimasu. 
レポートは下記のアドレスを参照ください。Repōto wa kaki no adoresu o sanshō kudasai.
本日 Bản nhật (hôm nay)
検査 Kiểm tra
報告 Báo cáo
下記 Hạ ký (dưới đây)
参照 Tham chiếu

Trò chuyện với gái yêu về vấn đề lý số vận mệnh

Ba nói mẹ sao để mẹ khỏi đi coi bói toán tử vi nữa đi! Chứ mỗi lần con bị xem tử vi là một lần tâm trạng con k tốt. Mà trong khi cuộc sống con thì đang rất ổn.


Hình như phụ nữ VN bị sao đó? Bà nội con và mẹ con, ba nói sao, giải thích thế nào cũng vẫn cứ chứng nào tật ấy.

Con chẳng hiểu. Con biết là có những thứ tự nhiên sắp đặt k thể tránh đc. Đã k thể tránh đc còn đi xem biết trước làm cái gì cho nó khổ dài hơn.


Tất cả những kẻ đi coi bói cho người ta đều vớ vẩn, vì mấy lý do:
1/ Bất tài vô dụng mới đi làm ba cái việc "lười làm mà có ăn".
2/ Nếu thực sự chúng nó biết thiên cơ, vậy sao không xem cho bản thân mình đi.
3/ Bản thân chúng nó biết là chúng nó nói toàn chuyện láo khoét. Vậy đằng nào cũng "nói láo ăn tiền" thì sao không nói cho người ta hài lòng.
Thế nên chỉ có những người thiếu kiến thức mới đi coi bói.

Mà đã nói nhiều về cái Tử Vi rồi: Hàng trăm người chung một lá số, vậy không lẽ cuộc đời giống nhau hết? Thế nên lá số tử vi là sai toét luôn.

Ba nghĩ sao về bài này: https://www.facebook.com/choichiemtinh/photos/a.585542744808691/3047795535250054/?type=3&theater
[quote]
[A] Nghiệp Tích Trữ (sanchita karma, tiếng Việt đọc là "san-chít-ta ká-ma", tiếng Phạn: सञ्चित): là "nghiệp tổng", hay "tổng kết" của các "nghiệp" được tích tụ lại qua nhiều đời kiếp
[B] Nghiệp Thụ Hưởng (prarabdha karma, hơi khó đọc "pờ-ra-rờ-bờ-đờ ká-ma", प्रारब्धकर्मन्) : là một phần nhỏ được trích ra từ Nghiệp Tích Trữ [A] để tạo ra sự hiện diện của cá nhân chúng ta trên cõi đời này (qua bố mẹ sinh ra trên quê hương của mình).

[C] Nghiệp Tạo Ra (kriyamana karma, "kria-[da]-mờ-na ká-ma", क्रियमाणकर्म): là những quyết định hay hành động do chúng ta tạo ra thêm "nghiệp" (mới) trong cuộc đời
[/unquote]


Ba vừa đọc xong bài đó, ba thấy bài đó có nhiều điểm rất dễ phản biện. Tuy nhiên con lớn rồi, con thử tìm cách phản biện xem. Tuy nhiên muốn phải biện cái gì thì cũng phải học để hiểu kỹ nó.

Con đọc cái đó thấy cũng có một vài điểm có lí.


Muốn phản biện đề tài này không dễ đâu. Phải đọc nhiều. Có óc tổng hợp. Và phải biết đếm nữa :D

Đến lúc con phản biện đc thì con vẫn sẽ tin vào những gì con đc học và dạy trong đạo Phật hồi xưa. Con cũng đọc rất nhiều về vc đạo Phật ko có xem số mà sao đi chùa đầu năm chùa nào cũng sao giải hạn các kiểu.

À... cái Đạo Phật mà con được học từ ngày xưa, là do ảnh hưởng của ba. Bây giờ ba cũng đã tiến hóa một chút so với những khái niệm của thời đó. Đó là về Nhân - Quả. Cái này là có thật. Tuy nhiên, cái đạo Đại Thừa đang hành hoành ở VN đã và đang lảm nhảm quá nhiều về Nhân - Quả để vừa dụ dỗ vừa hù dọa người ta tin theo và đi theo. Trong khi Phật Thích Ca lại không nói quá nhiều về Nhân - Quả, mà ông chú trọng vào việc dạy người ta tu thành đạo ngay trong đời này. Chính vì vậy mà mọi trò mê tín dị đoan ba đều vứt hết. Ngay kể cả thời xưa ba cũng tin Tử Vi, nhưng từ khi ba biết đếm thì ba không tin Tử Vi nữa.

Hôm nay vì cái này mà con phải viết cái này xuống để màn hình điện thoại.

Những biến cố liên tục xảy đến với ta. Nhưng sự lựa chọn cách phản ứng của ta mới quan trọng. Vì vậy các biến cố ảnh hưởng đến hạnh phúc của ta là 10 phần, 90 phần còn lại là do cách ta ứng xử với biến cố đó.

Nói về chuyện biết đếm, thì có một cái rất dễ đếm mà hầu như mọi người đều bỏ qua. Có thể những kẻ bảo vệ các trò mê tín dị đoan cố tình bỏ qua. Còn những người không tin mê tín thì không phản biện được vì không biết đếm. Cái đếm dễ nhất ba muốn nói đến chính là dân số thế giới. Ngày nay dân số thế giới là hơn 7 tỷ người. Năm 1050, cả thế giới chỉ có khoảng 250 triệu người. Dân số thế giới duy trì ở mức dưới 1 tỷ người đến tận năm 1850.
Vậy theo sự nội suy đồ thị, vào thời điểm khoảng năm 4000 trước Tây Lịch - Khi mà lúc đó khoa học chiêm tinh hình thành thì thời điểm đó, dân số cả thế giới chỉ là vài triệu người.
Vậy một câu hỏi đặt ra cho cái tiền đề của khoa chiêm tinh rằng con người sanh ra bởi ĐỊNH NGHIỆP, thì cái gì làm cho dân số thế giới thay đổi chóng mặt từ năm 1850 đến nay?
Phải chăng đã có rất nhiều hành tinh có sự sống bên ngoài vũ trụ bị diệt vong? Nên những linh hồn từ những nơi đó buộc phải chạy đến trái đất này để đầu thai?

Hóa ra biết đếm quan trọng lắm con gái ạ!

Con cũng vừa đọc một bài nói rằng chỉ có iphone xuất hiện 10 năm nay mà thay đổi cục diện toàn thế giới thì cớ gì phải tin cái thứ định nghiệp đc sáng tạo ra cả mấy ngàn năm trc.


Về vấn đề i-phôn, thực ra công nghệ không phải là thứ gì mới mẻ, nó là thứ có sẵn, chỉ có điều là người ta tìm được ra cách sử dụng nó.

Con có biết về "Population trap" trong môn phát triển kinh tế. Trc đó GDP toàn thế giới k hề tăng trưởng, chỉ khi cách mạng công nghiệp diễn ra thì mới tăng gdp đồng thời tăng dân số.

Liệu có phải ng đầu thai là cây cỏ thiên nhiên bị giết ko? Ka ka...


Ka ka... đúng sẽ có người lý luận rằng "dân số tăng lên là do những loài khác sau khi bị giết đầu thai sang". Nhưng lý luận như vậy thì mình lại có cả ngàn lý lẽ hợp lý bóp chết ngay.

Ví dụ như lí lẽ gì ạ?


Vì sao đầu thai là người? 
1/ Được đầu thai làm người?
2/ hoặc muốn đầu thai làm người?
Cả 2 câu trả lời của 2 câu hỏi trên đều không dẫn đến kết quả là loài khác đã đầu thai sang loài người.

1/ Được đầu thai làm người: Nghĩa là phải có phước lớn? Loài vật có tu hành gì đâu mà có phước lớn để chuyển kiếp làm người?

2/ Muốn đầu thai làm người: Loài vật không lẽ nó biết nhận thức thấy rằng làm người sướng hơn hay sao? Ví dụ một con giun, nếu bị mình tấn công, nó sẽ cố sống cố chết để chạy, nó tham cái kiếp sống làm giun chứ nó đâu có tham chết để đầu thai làm người.

Vì thế loài nào chết đi, thì kiếp sau cũng sẽ đầu thai đúng loài đó. Thiên Đường hay Địa Ngục cũng đều ở đây cả. Người có TÂM tự do như Đưc Phật Thích Ca hay như Lão Tử thì là đang sống kiếp Thiên Đường. Kẻ sống khổ tủi nhục thì là kiếp Địa Ngục.

Haha con chỉ nghĩ đc ý số 1 mà ba nghĩ đc cái số 2 hay quá 😀


Nếu ai đó có nói đến cái số 3 thì mình vẫn phản biện được. mà cái số 3 là gì ba chưa nghĩ ra.