Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

Trường Cuốc Tế các bậc phổ thông ở xứ Vệ là một trong những quái thai của chế độ


Có một lần tôi nhờ thằng cháu ở bên Đức đến điều tra một trường quốc tế ở Hamburg - chả là tôi muốn tham khảo xem một nơi nào đó để gửi con đi học.
Sau khi đến thăm trường thằng cháu nó nói huỵch toẹt: "Trường chán lắm chú à! Với lại con nhà chú không đủ tiêu chuẩn học trường đó".
Cũng sau nhiều lần tìm hiểu về các trường quốc tế ở một vài nơi khác thì dẫn đến một tóm tắt như sau về trường quốc tế:
- Lý do hình thành trường quốc tế: Vì có nhiều người nước ngoài đến làm việc mang theo con cái, nên cần có trường cho chúng nó học.
- Học trò ở hầu hết các trường quốc tế là đa quốc tịch, dân bản địa không thích học ở đó.
- Vì là học sinh đến từ tứ phương nên chương trình học cũng chung chung chứ không thấm đẫm bản sắc văn hóa của nước bản địa. Bởi thế đương nhiên là chán hơn các trường thuần của địa phương.

Thế nhưng ở VN lại đẻ ra vô cùng nhiều trường quốc tế nhưng lại không phải để phục vụ trẻ em quốc tế, mà là để phục vụ các cháu bé Việt.
Chính vì vậy tôi xin trịnh trọng khẳng rằng: Trường quốc tế cho các bậc học phổ thông ở xứ Vệ là một trong những QUÁI THAI của chế độ.
Nó được tạo ra bởi những kẻ thân lợi ích nhóm với lòng tham vô độ chỉ quan tâm đến TIỀN. (TIỀN ai mà không tham?)
Nó được nuôi sống và phát triển nhờ vào sự NGU DỐT của những bậc phụ huynh lắm tiền. Tôi xin lỗi phải dùng NGU DỐT ở đây. Và thật sự tôi cũng đã từng NGHĨ NGU DỐT như vậy. May cho 2 đứa con tôi là mặc dù tôi NGHĨ NGU DỐT nhưng tôi không có TIỀN.
Những bậc phụ huynh lắm tiền đã NGU DỐT cho rằng trường quốc tế là cái nơi tốt nhất cho con của họ.
Chưa nói đến CHẤT LƯỢNG có đúng thật là quốc tế hay không?
Hãy cứ coi là đúng chất lượng quốc tế đi.
Nhưng một đứa trẻ lớn lên muốn trở thành người quốc tế thì trước tiên nó phải đậm đà bản sắc Việt Nam trước nhất. Nếu nó là một đứa trẻ VN mà khi bước ra quốc tế người ta hỏi "Hà Nội xưa vốn là Thăng Long nhỉ! Ai đặt tên cho Thăng Long nhỉ?" - mà nó không trả lời được. Thì người ta sẽ đánh giá nó "thằng bé này rỗng tuếch, nó chẳng biết gì về nơi nó sanh ra và lớn lên thì nó hoàn toàn vô vị”. Một kẻ vô vị thì không thể nào thành người quốc tế được.
Thế cho nên, một đứa trẻ học trường quốc tế (chất lượng quốc tế) sẽ trở nên vô vị như vậy!
Okie! Sẽ nhiều người nói với tôi rằng: “Thì học trường thường ở VN, trẻ con cũng vô vị đấy thôi.”
Vâng đúng! Đó là cái TỘI tày đình của cái bọn chánh trị gia xứ Vệ này! Chúng nó chỉ muốn nhồi sọ trẻ con những điều bịa đặt dối trá nhằm tô vẽ cho vỏ bọc hào hoa bên ngoài của chúng, để che đậy sự khốn nạn bên trong của chúng.  
Và thực ra ở xứ Vệ này có được bao nhiêu người thuộc ngành giáo dục đang làm được đúng thực sự nghề giáo “chăm sóc nuôi dưỡng tâm hồn cho thế hệ tương lai?”
Với một chương trình giáo dục nặng nề nhồi nhét thì bao nhiêu thiên tài bẩm sanh đều bị tiêu diệt sạch bách!
QUÁI THAI! HẾT THUỐC! QUÁI THAI!


  • Nghia Tran Gần ngõ nhà anh hình như cũng có trường quốc tế mà
    1
  • Nguyen Hai An Quái thai! Hết thuốc! Là chết ... chứ!
    1
  • Lien Ho Khi chúng ta ko có sự lựa chọn nào khác thì phải chấp nhận nó thôi, dù là trường công bị nhồi sọ nhưng dân làm được gì vào lúc này? Ai can đảm cho con ở nhà? Còn trường quốc tế, nó là tư lợi nhưng ko bị nhồi sọ quá nhiều. Để chọn lựa cái gọi là đúng sai ở đây ko quan trọng nữa vì ko có sự chọn lựa. Mong rằng dù ở trường công hay trường quốc tế thì con em trước hết cần nền tảng cơ bản còn nhảy xa bao nhiêu còn tùy thuộc vào nhiều vân đề.biết rằng dù là quốc tế thế nào đi nữa thì cũng trong khuôn khổ của nền gd của cnxh và được vẫn hành bởi những con người ấy.
    2
    • Hà Nam Ninh Vậy nó chỉ nên là TRƯỜNG TƯ THỤC thôi, sao lại đặt cái chữ QUỐC TẾ vào đó, để mục đích lòe bịp cái gì?
      1
    Viết phản hồi...

  • Hung Pham Anh Bài viết phân tích chính xác ở: 
    - Lý do hình thành trường quốc tế: Vì có nhiều người nước ngoài đến làm việc mang theo con cái, nên cần có trường cho chúng nó học.
    - Học trò ở hầu hết các trường quốc tế là đa quốc tịch, dân bản địa không thích học ở 
    đó.
    - Vì là học sinh đến từ tứ phương nên chương trình học cũng chung chung chứ không thấm đẫm bản sắc văn hóa của nước bản địa. Bởi thế đương nhiên là chán hơn các trường thuần của địa phương.
    Nhưng dùng từ hơi “Mạnh – NGU DỐT” vì Phụ huynh cho con học trường “Cuốc Té” cũng đỡ nhồi sọ, đỡ áp lực hơn và cũng vì “Thị dục huyền ngã” nữa, con ta học trường “Cuốc Té” đó (kiểu như các trường điểm, trường chuyên, lớp chọn). Công tâm xét chắc chất lượng cũng khá hơn nhưng chưa xứng với chi phí (quá cao) 
    Đồng ý nên dùng từ trường TƯ THỤC không phải “Cuốc Té”. 
    “Cuốc Té” thì đám lắm của nhiều tiền mới cho con học, còn TƯ THỤC chắc chỉ người nghèo mới cho con học thôi (bây giờ có trường Giáo dục thường xuyên, những HS rớt tốt nghiệp học) 
    Tại sao không là triết lý giáo dục Nhân Bản – Dân Tộc – Khai Phóng 
    Đáng tiếc đáng buồn là ít người có tâm với giáo dục
    1
    Viết phản hồi...

  • Do Duc Thach Thầy bóc vỏ cái khái niệm " quắc tế" cũng thấy hay hay. Nhưng không đồng tình với thầy khi qui chụp tất cả bọn có tiền cho con vào " quắc tế" chỉ vì mong con chúng thành cái này cái nọ và cho oai. Bọn muốn con thành Ngố Bảo Trâu thì chúng dành tiền đó nhồi cho con để vào trường chuyên. Mà nhiều phụ huynh như tôi biết chỉ mong bỏ tiền ra mua quãng tuổi thơ hạnh phúc cho trẻ ( không phải học thêm, phải "yêu lấy thầy", không phải tụng "người cho em tất cả là bác..Aì Bí Ci").

    Một khái niệm khá sang chảnh và đắt đỏ là 'TƯ THỤC' đã được cụ Nguyễn Trần Bạt nói đến từ trước đây. Cái ở nước Vệ nó lại thành nơi để xã hội coi là "xà bần" mới quái thai làm sao???? nó biến thành "bóng lộ" là 'bán công' or 'dân lập' . Vì môi trường xã nghĩa nên bọn 'công lập' mới lobby cho bọn 'tư thục' bị ra rìa.

Sưu tầm tháng cúng VONG: CON ĐỐT Ô TÔ BA CÓ NHẬN ĐƯỢC KHÔNG ?


CON ĐỐT Ô TÔ BA CÓ NHẬN ĐƯỢC KHÔNG ?

(Tại trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người ).

Vong linh một vị tướng quân đội nhập vào cô cháu gái, cười ha hả, mà giọng nói rất to, trầm hùng, lại pha chút khôi hài của vị tướng quân quen "ăn to nói lớn" nơi chiến trận.

Anh con trai (quân hàm thượng tá) hỏi:

- Con đốt tiền biếu cho ba, ba có nhận được không?
- Nhận được!
- Con đốt quần áo biếu cho ba, ba có nhận được không?
- Nhận được!
- Con đốt ôtô biếu ba, ba có nhận được không?
- Ôtô hả, mi đốt cả hai lần tao đều nhận được cả!

Cả gia đình mừng mừng, tủi tủi vì không những được giao lưu trực tiếp với cha mình (tính tình giọng nói vẫn thế) mà ba còn nhận được quà biếu của con cháu nữa. Đột nhiên vị tướng chuyển sang giọng trang nghiêm và khôi hài:

- Nhưng mà bọn mi đã hại tao!
- Sao hả ba?
- Khi nhận được ôtô, khoái chí quá, tao đẩy ra đường chạy thử thì khởi động mãi mà máy không nổ! Hoá ra không có xăng (cả gia đình cười). Chềnh hềnh ra đường mãi, nên công an đến tuýt còi bắt nộp phạt vì "cản trở giao thông". Loay hoay và lóng ngóng mãi mà không đánh xe vào rìa đường được, công an lại hỏi: "xin cho kiểm tra bằng lái", tao làm gì có bằng lái, và lại phải nộp phạt lần thứ hai (cả gia đình lại cười). Chưa hết đâu, khi bọn mi gửi ôtô lần thứ hai, tao chán quá chả thèm đi nhận, thì tháng sau tao lại nhận được một "trát" bắt nộp tiền "phạt phí lưu kho lưu bãi" (cả gia đình lại cười như nắc nẻ).

- Như vậy vẫn còn may đấy, nếu tao mà đi từ Sài Gòn bằng chiếc ôtô bọn mi biếu thì ba ngày nữa chưa chắc ra được Hà Nội, vậy thì hôm nay giao lưu làm sao được đây?
- Thế ba đi mây về gió à?
- Nhanh hơn cả đi mây về gió! Chỉ cần nghĩ về đâu là đến đó liền. Nhưng bọn mi có thực lòng biếu ôtô cho tao không?
- Chúng con thật lòng mà ba
- Chiếc ôtô thứ hai khá cầu kỳ, bọn mi mua 700.000 đồng ở Hàng Mã đúng không?
- Vâng, sao ba biết tường tận như thế!
- Thì lúc đó tao đang đứng cạnh đó mà. Nếu bọn mi có lòng hiếu thảo, thì hãy mua cho tao một chiếc ôtô thật khoảng 700 triệu thôi mà.
- Nhưng ba có cần đi ôtô của trần gian đâu
- Thì tao tặng cho các đồng đội của tao trong hội cựu chiến binh để họ chở nhau đi chơi, được không

Mấy người con gãi đầu gãi tai tỏ ra lúng túng, vị tướng quân lại cười ha hả và nói: "Ôtô thật sao không biếu, mà chỉ biếu ô tô giấy 700.000 đồng thôi, lại còn cứ khấn "ba phù hộ cho con thăng chức ba nhé", ôtô giấy mà thay cho lòng hiếu thảo được à?"

Vị tướng lại nói tiếp:

- Bọn mi khi đi may quân phục có đo không?
- Phải đo đến ba lần chứ ạ.
- Thế sao bọn mi mua quần áo mã mà chẳng đo gì cả, biết "người âm" gầy hay béo, cao hay thấp mà mua? Mặc không vừa thì vứt bãi rác à?
- Con nghĩ là sẽ có phép biến hoá mà ba
- Đã có phép biến hoá thì cớ sao phải mua đồ giấy để đốt đi cho phí, sao không mua đồ thật, rồi đặt lên cúng, tao vẫn chứng nhận được mà, sau đó đem quần áo ấy tặng cho các đồng đội của tao, nói rằng "ba cháu gửi biếu các bác" thì có hơn không?
- Vâng chúng con xin làm theo lời ba
- Lại còn cái vụ tiền mã nữa.

Có 4 lý do mà không nên mua đồ mã ?

- thứ nhất là các nguyên liệu làm tiền mã, đồ mã đều từ các thứ vật liệu dễ cháy, bẩn thỉu, tanh hôi.

- Thứ hai là khi gia công, đàn bà con gái, chó mèo nhảy qua nhảy lại còn gì là thanh tịnh.

- Thứ ba là bọn mi đi lấy tiền ngân hàng, có đếm không? Đếm đến ba lần ấy chứ. Nhưng khi đi mua tiền mã, có đứa nào đếm không? Chẳng bao giờ chứ gì. (cả gia đình sững sờ). Nhưng nếu có đếm thì chẳng bao giờ đủ đâu. Như vậy trong tư duy của bọn làm tiền mã, hàng mã đã chứa đầy tư tưởng đại khái và giả dối rồi, sự giả dối và bất tịnh này đã tàng trữ trong đồ cúng. Thế mà lại nheo nhẻo khấn rằng "chúng con lòng thành dâng lên tịnh tài tịnh vật" hay saoThanh tịnh cái nỗi gì !

- Thứ tư là: "thống đốc ngân hàng" của thế giới tâm linh đâu có cho phép lưu hành đồng tiền do các cõi giới khác in hộ? Đồng tiền phải có mệnh giá chứ, có thể chế nào mà lại chấp nhận cho hàng nghìn hàng vạn hãng in tiền không? Rồi ai cũng tự in thì tiền có giá trị gì không?... Vậy nên, nếu các con có cúng thì hãy cúng tiền thật, sau đó mang số tiền đó nhân danh ba mà giúp đỡ đồng đội của ba thì đó mới là cúng thật.



THÁI TỔ NHÀ MINH CHU NGUYÊN CHƯƠNG LỪA DỐI NGƯỜI DÂN TRUNG QUỐC
NGƯỜI VIỆT BỊ LỪA DỐI THEO DO 1000 NĂM BẮC THUỘC
Khi nhắc đến tháng 7 thì ai cũng nghĩ ngay tới tháng cô hồn. Nhưng sự thật là chúng ta đã bị lừa suốt 400 năm qua.
Chuyên gia dân gian học Nghiêm Vinh Phong đã kiểm chứng rất nhiều kinh thiên cổ cho thấy, trước thời Chu Nguyên Chương nhà Minh không có ghi chép nào nói tháng 7 là tháng không may mắn. Tập tục này có thể là “kế sách mị dân” của Chu Nguyên Chương.

Theo sách “Thiên nguyên ngũ ca” của Đại Hồng, Vương đế cổ đại khi qua đời thường lui lại đến tháng 7 mới cho an táng, vì tháng 7 là tháng thân – tháng “thượng đắc thiên thời, hạ đắc địa lợi”. Điều này cho thấy tháng 7 là tháng may mắn, không hề có ý nghĩa đen đủi.
Trong sách “Hoàng Thiệu Niên Dân” có ghi chép, vào cuối đời nhà Nguyên đầu đời nhà Minh, quân sư Lưu Bá Ôn đã hiến kế cho đức vua, cho người loan tin trong dân rằng “tháng 7 là tháng ma quỷ trời sẽ gieo thảm họa xuống trần gian”. Chu Nguyên Chương vốn mê tín nên đã dùng cách này để mị dân để dân chúng không được hưởng những ngày tháng may mắn cùng hoàng tộc.
Tháng 7 âm lịch, đừng sợ ma sợ quỷ. Quan niệm “Tháng cô hồn” đã lưu truyền vài trăm năm, cho đến nay vẫn có rất nhiều người tin vào điều đó trong khi thực chất đây chỉ là kế sách ích kỉ muốn độc chiếm những ngày tháng may mắn của Chu Nguyên Chương.

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

回転寿司= Kaitenzushi = Conveyor belt sushi = quán băng truyền xư-si

回転寿司= Kaitenzushi = Conveyor belt sushi  = quán băng truyền xư-si

日本の食べ物では寿司天ぷらが有名です。=Nihon no tabemono dewa sushi ya tenpura ga yūmei desu.  = Sushi and tempura are famous for Japanese food. = Nhật Bản món ăn mà nói, xư-si tem-pư-ra rất là nổi tiếng.
食べ物 = tabemono = food = món ăn
寿司 = sushi = xư-si (món cá sống ôm cơm)
天ぷら = tenpura = tem-pư-ra (món gồm rau tẩm bột rán, tôm tẩm bột rán, cá tẩm bột rán)
有名 = yūmei = nổi tiếng

日本人は寿司が大好きです、小さな寿司屋では、とても値段が高いところもあります。=Nihonjin wa sushi ga daisuki desu ga, chīsana sushi-ya dewa, totemo nedan ga takai tokoro mo arimasu. = Japanese people love sushi, but some small sushi shops are very expensive. = Người Nhật Bản rất thích món xư-si, nhưngnhững quán xư-si nhỏ, nơi giá cả rất đắt cũng có.
大好き = daisuki = love = rất thích
小さな寿司屋 = chīsana sushi-ya = small sushi shops = quán xư-si nhỏ
とても = totemo = very = rất
値段 = nedan = giá cả
高い = takai = expensive = đắt
ところ = tokoro = where = nơi (đâu/ nào)
も = mo = cũng
あります = arimasu = có

家族4人で行くと1万円くらいなるので、行けないという人もいます。=Kazoku yonin de iku to ichi man-en kurai ni narunode, ikenai to iu hito mo imasu. = There are people who can not go because it costs around 10,000 yen for family 4 persons. =  Gia đình có 4 người, cùng đi ăn, có thể chi phí lên đến 1 vạn yên, bởi vậy có những người không có khả năng đi ăn.
家族=Kazoku = family = gia đình
4人 = yonin = 4 người
行く = đi (ăn)
家族4人で行くと = Gia đình 4 người cùng đi
くらい = kurai = khoảng
= trợ từ đứng sau số lượng (số tiền) để chỉ ra cái mức cần thiết.
なる = trở nên/ lên tới/ trở thành
ので = trợ từ đứng sau mệnh đề chỉ nguyên nhân, có thể dịch là bởi vì. Ví dụ: 雨降ったので、遅れました。= Ame futtanode, okuremashita. = vì trời mưa, tôi đã đến muộn.
行けない = Phủ định dạng khả năng của động từ ĐI, dịch là không thể đi.

それで、1990年の終わりごろから一皿100円の寿司が出てきました。=Sore de, sen kyu hya-ku kyu ju nen no owari-goro kara hitosara hyaku-en no sushi ga dete kimashita. = So, from the end of 1990, a dish of 100 yen sushi came out. = Thế nên, từ khoảng tầm cuối năm 1990, những quán xư-si 100yen/đĩa đã xuất hiện.

店の中に長いテーブルがあって、その向こうに寿司が乗った皿が回ってきます。=Mise no naka ni nagai tēburu ga atte, sono mukō ni sushi ga notta sara ga mawatte kimasu。= There is a long table in the shop, and a dish with sushi on it turns around. = Bên trong nhà hàng loại này, có cái bàn dài gắn băng truyền vòng quanh, đĩa xư-si đặt lên đó và chạy theo băng truyền.

客は自分が食べたい寿司を取って食べます。=Kyaku wa jibun ga tabetai sushi o totte tabemasu. = Customers take and eat the sushi they want to eat. = Khách hàng tự lấy đĩa mình muốn và ăn.

大人でも7〜10皿でお腹いっぱいになります。=Otona demo nana kara ju-sara de onaka-ippai ni narimasu. = Người lớn từ 7~10 đĩa là no rồi.

ビールやジュースなどの飲み物やケーキや果物などのデザートもあります。= Bīru ya jūsu nado no nomimono ya kēki ya kudamono nado no dezāto mo arimasu.  = There are also beverages such as beer and juice, and desserts such as cakes and fruits. = Cũng có đồ uống như "beer" và nước ép rau quả; và cũng có món tráng miệng như bánh ngọt và trái cây.

家族や若い人のグループが多いです。=Kazoku ya wakai hito no gurūpu ga ōidesu.  = There are many families and groups of young people. = Các gia đình và các nhóm bạn trẻ đến rất đông.

Nhà hàng xư-si băng truyền
Nhật Bản món ăn mà nói, xư-si và tem-pư-ra rất là nổi tiếng.
Người Nhật Bản rất thích món xư-si, nhưng, ở những quán xư-si nhỏ, nơi giá cả rất đắt cũng có.
Gia đình có 4 người, cùng đi ăn, có thể chi phí lên đến 1 vạn yên, bởi vậy có những người không có khả năng đi ăn.
Thế nên, từ khoảng tầm cuối năm 1990, những quán xư-si 100yen/đĩa đã xuất hiện.
Bên trong nhà hàng loại này, có cái bàn dài gắn băng truyền vòng quanh, đĩa xư-si đặt lên đó và chạy theo băng truyền.
Khách hàng tự lấy đĩa mình muốn và ăn.
Người lớn từ 7~10 đĩa là no rồi.
Cũng có đồ uống như "beer" và nước ép rau quả; và cũng có món tráng miệng như bánh ngọt và trái cây.
Các gia đình và các nhóm bạn trẻ đến rất đông.

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019

Các cách dùng từ も

https://tuhoconline.net/cach-dung-tro-tu-%E3%82%82-tro-tu-tieng-nhat.html

1/ も = Also = Cũng
私は学生です。山田さん学生です。= Watashi wa gakuseidesu. Yamada-san mo gakuseidesu. = I am a student. Mr. Yamada is also a student. = Tôi là sinh viên. Bạn Yamada cũng là sinh viên.

2/ Liệt kê những thứ cùng nhau và có nghĩa là "cả cái này, cả cái kia"
一番妻二番妻は妻です。= Ichiban tsuma mo ni-ban tsuma mo wa tsumadesu. = Both the first wife and the second wife are wives. = Vợ cả vợ hai đều là vợ cả.

奥さん恋人もただ好きな人だ。= Okusan mo koibito mo tada sukinahitoda. = Wife and lover are also persons whom I love. = Vợ và người tình đều là người tôi yêu.

恋人愛して人だ。=Tsuma mo koibito mo itoshite hitoda. = I love my wife and lover. = Tôi yêu cả vợ và người tình.

3/ Dùng để bổ sung thể hiện ý nghĩa "cũng"
このレストランはベトナム料理はもちろんが、日本料理仕えっていますよ。= Kono resutoran wa Betonamu ryōri wa mochiron ga, nihonryōri mo tsukae tte imasu yo。= This restaurant serves not only Vietnamese food but also Japanese food. = Nhà hàng này phục vụ món Việt và cũng có món Nhật đó.

4/ Dùng để nhấn mạnh
この言葉リストだけを覚えるのに一週間かかるの。=Kono kotoba risuto dake o oboeru no ni isshūkan mo kakaru no. = It takes a week to remember only this list of words. = Để học thuộc lòng chỉ cái list từ vựng này là mất nguyên cả tuần cơ á?
だけ = only = chỉ mỗi

5/ Dùng nhấn mạnh trong câu phủ định
彼に3回電話をかけたが、一回も出てくれなかった。=Kare ni san-kai denwa o kaketaga, ikkai mo dete kurenakatta. = I called him three times, but he didn't catch even once. = Tôi gọi điện anh ấy 3 lần, nhưng anh ấy không bắt máy một lần nào.

6/ Dùng theo thói quen
もう誰も彼も行っちゃったか。=Mō daremokaremo itchatta ka. = Everyone gone? = Mọi người và cả anh ta nữa đều đi hết sao?





Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019

Các cách dùng của thể て

Cách chuyển động từ sang thể て https://hanamninh.blogspot.com/2019/08/the-chuyen-sang.html

1/ Dùng cho câu mệnh lệnh

ってください。=たってください。= Please stand. = Xin hãy đứng dậy!
ってください。= すわってください。= Please sit down. = Xin hãy ngồi xuống!

そこに止まってください。=そこにとまってください。= Please stop there. = Xin hãy dừng ở kia (nói với người lái xe taxi)
次止まります。=つぎとまります。= I will stop next. = Xe bus sẽ dừng ở điểm tiếp theo.
止まれ。=とまれ. = STOP! = Đứng lại! (Cảnh sát quát tội phạm)

早く走ってください。=はやくはしってください。= Please run fast. = Hãy chạy nhanh lên!

いて書き留めください。=きいてかきとめてください。= Listen and write down. = Xin hãy lắng nghe và chép lại.

公園に行って友達と遊んでください。=こうえんにいってともだちとあそんでください。= Go to the park and play with your friends. = Hãy ra công viên và chơi với bạn của mày.

2/ Dùng cho thì hiện tại tiếp diễn

私の家族は4人です。=わたしのかぞくはよにんです。= My family is 4 people. = Gia đình tôi có 4 người.
ベトナムの上海に住んでいます。=ベトナムのしゃんはいにすんでいます。= We are living in Shanghai, Vietnam. = Đang sống ở Thượng Hải của VN.
一番妻は教師です。中学校で働いています。=いちばんつまはきょうしです。ちゅうがっこうではたらいています。= My first wife is a teacher. She work in junior high school. = Vợ cả tôi là giáo viên. Cô ấy đang làm việc ở trường cấp 2.
娘は21歳大学生です。立命館APUで勉強しています。=むすめはにじゅういっさいだいがくせいです。りつめいかんAPUでべんきょうしています。= My daughter is a 21-year-old university student. She is studying at Ritsumeikan APU. = Con gái 21 tuổi sinh viên, đang học tại trường Lập Mệnh Quán APU.
息子は14歳ベトナムのケンブリッジ中学校で習っています。=むすこはじゅうよんさいベトナムのケンブリッジちゅうがっこうでならっています。= My son is 14 years old and learning at Cambridge Middle School in Vietnam. = Con trai 14 tuổi đang học tại trường cấp hai Cambridge Việt Nam.

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019

Vinh Huy Lê: THÁNG CÔ HỒN

THÁNG CÔ HỒN
#Tập_tục_ta_bà
Tương truyền vào tháng Bảy âm lịch, cửa địa ngục mở ra để ngạ quỷ về trần khất thực. Do đó từ ngàn năm nay, tháng Bảy âm lịch thành tháng tiềm ẩn nhiều xui xẻo và tai họa - ở Tàu cũng như ở ta. Nguyên ủy hiện tượng “tháng cô hồn” này hơi rối rắm vì có nhiều đan xen, chồng lấn giữa các quan niệm Nho-Thích-Đạo.
TỪ TÍN NGƯỠNG THÀNH DỊ ĐOAN
Tháng Bảy âm gọi Mạnh thu (đầu mùa thu), là tháng nóng bức nhất trong năm; cũng là lúc các loài lan nở rộ, nên còn gọi Lan nguyệt (tháng của hoa lan)[1].
Tra thư tịch thì vào thời Chiến quốc, tháng Bảy vốn được xem là bình thường như các tháng khác trong năm. Sách Lễ ký (thiên Nguyệt lệnh) ghi lại những hoạt động nhộn nhịp của dân Tàu diễn ra trong tháng Bảy hồi 2.500 năm trước: “Tháng này lúa chín, thiên tử dâng cúng nơi miếu đường trước khi nếm gạo mới. Lệnh cho bá quan bắt đầu thu vén [thuế má], giữ gìn đê điều, chăm lo [sông ngòi] khỏi tắc nghẽn để ngừa ngập lụt. Sửa cung thất, tường vách thành quách có bị thấp, mục thì lo tu bổ”[2].
Suốt từ đó cho đến các đời Tần-Hán, tháng Bảy trong sinh hoạt dân gian, nếu không phải bức tranh sáng sủa thì cũng chẳng tới nỗi nặng nề âm khí tà ma như từ sau đời Minh đến nay. Mọi sự bắt đầu đảo lộn từ khi Phật giáo Ấn Độ truyền vào và bị biến tướng bởi Đạo giáo cùng dị đoan bản địa.
Nguyên tăng ni Phật giáo mỗi năm có ba tháng an cư. Theo Đại Tạng kinh thì ở Ấn Độ xưa, vào mùa mưa có nhiều loài trùng kiến bò ra, khiến người tu hành nếu đi lại có thể sẽ bất cẩn giẫm đạp phải chúng mà phạm vào giới luật sát sanh. Vì lòng từ bi, các tăng ni được dạy nên đóng cửa ở yên một chỗ không ra ngoài vào mùa mưa, đặng chuyên tâm tu tập[3].
Mùa mưa ở Ấn Độ kéo dài từ tháng Năm đến tháng Tám âm lịch (khoảng tháng 6 đến tháng 9 dương lịch). Khi tục này truyền sang Trung Hoa thì có biến đổi cho phù hợp với thời tiết thủy thổ, mùa an cư ở Tàu vì vậy được ấn định vào ba tháng hè, gọi là “Kết hạ an cư” 結夏安居. Kết ở đây nghĩa là tụ lại; kết hạ là tụ lại trong mùa hè[4].
Để việc tu tập thêm ý nghĩa, Phật giáo Trung Hoa lấy rằm tháng Tư (Phật đản) làm ngày bắt đầu an cư, ngày kết thúc do đó rơi vào rằm tháng Bảy. Rằm tháng Bảy vì vậy lúc đầu được gọi ngày Phật hoan hỷ (佛歡喜日).
Đến đây dính líu một quyển kinh khác, là Vu-lan-bồn[5]. Theo kinh Vu-lan, Thích Ca vì cảm tấm lòng hiếu thảo của Mục Kiền Liên[6] nên đã truyền pháp cứu tế và dặn tôn giả: Nhân ngày rằm tháng Bảy, khi các sư vừa dứt mùa an cư thì tới dâng phẩm vật lên các ngài, đặng nhờ thần lực chư tăng mười phương giúp siêu độ vong linh nơi địa ngục. Phần các tăng, Phật dạy là trước khi thọ thực phải nhiếp tâm định ý, gửi chú nguyện cứu độ vong linh rồi mới tiếp nhận phẩm vật. Thần lực của mười phương chư tăng nhờ vậy hội tụ, cứu mẹ Mục Liên thoát địa ngục, về nơi tịnh độ.
Có đủ bằng chứng để xác định Vu-lan là ngụy kinh[7], nhưng đó là chuyện khác, ở đây chỉ xin bàn rõ một điều: Rằm tháng Bảy là ngày do Phật giáo Trung Hoa tự ấn định dứt mùa an cư, chứ không phải được chọn bởi Thích Ca. Vì như đã nói: Vào rằm tháng Bảy ở Ấn Độ, sư tăng còn đóng cửa tu tập trong chùa, họ rảnh đâu để mò ra đợi thọ cúng dường?
Tuy đặt nghi vấn làm vậy, nhưng vì không biết chữ Phạn để đối chiếu, thôi cứ tạm chấp nhận rằm tháng Bảy là ngày do chính đức Phật ấn định để xá tội vong nhân. Thì đến đây lại có bất thường, ở chỗ: Phật dạy chúng sinh mượn sức chư tăng để cứu độ cha mẹ vào rằm tháng Bảy; thậm chí ngày rằm này đối với Phật tử còn là ngày vui mừng tốt lành được báo hiếu - không chỉ với cha mẹ hiện tiền mà cả cha mẹ trong bảy kiếp đã qua. Vậy từ đâu ra thói tục coi nguyên cả tháng Bảy là của cô hồn ảm đạm, đầy khủng bố tai ương chực chờ?
Tới đây, phải tìm hiểu qua quan niệm Đạo giáo về rằm tháng Bảy, bởi không phải ngẫu nhiên Phật giáo Trung Hoa chọn ngày này làm pháp hội. Nguyên Đạo giáo cho rằng có ba vị thần coi sóc mọi việc trên trời, dưới đất, và trong nước. Ba vị đó là Thiên quan, Địa quan và Thủy quan (Tam quan). Mỗi năm, “Tam quan” hội họp vào ba ngày rằm tháng Giêng, tháng Bảy và tháng Chạp để xem xét định luận công-tội của thần tiên, loài người và các loài trong ba cõi. Đây là ba ngày rằm có ý nghĩa lớn (Tam nguyên): rằm tháng Giêng gọi tiết[8] Thượng nguyên, là lễ tế Thiên quan; rằm tháng Bảy là tiết Trung nguyên, tế Địa quan; và rằm tháng Chạp là tiết Hạ nguyên, tế Thủy quan.
Thêm một điều trùng hợp, tiết Trung nguyên thuở xưa còn là lễ hội mừng thu hoạch: vào ngày này, dân Tàu cúng tế thịnh soạn để cầu Tam quan ban phước. Xuyên suốt thời cổ đại, Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt[9] tuy vậy lại là tháng của hội hè, cưới gả, với ngày vợ chồng Ngâu trùng phùng (mùng Bảy), lễ báo hiếu kiêm cầu phước (rằm). Cho đến khi các vu sư chen vào kiếm ăn thì tình hình bỗng khác…
Đó là vào đầu triều Minh, khoảng niên hiệu Hồng Võ (1368-1399) đời Chu Nguyên Chương. Triều đình mới thành lập hãy còn non yếu, các bang hội giang hồ nở rộ, thầy pháp thầy bùa cũng lộng hành khắp chốn hương thôn. Lúc này, một cổ tục của vùng Mân Nam (tên gọi khác của tỉnh Phúc Kiến) được lan truyền. Nguyên người Xà[10] ở Mân tin rằng vào tháng Bảy, cửa địa ngục được mở từ mùng 2 đến ngày rằm, cho các cô hồn ngạ quỷ lên dương thế kiếm ăn. Khoảng thời gian này gọi là “Quỷ tiết” (mùa ma quỷ), đa số người Mân có tục không cưới gả, xây cất hoặc đi xa trong những ngày nói trên[11]. Theo đó, các thầy bà lại vẽ rắn thêm chân, phóng đại thêm thắt đủ điều kiêng kỵ để moi tiền tín chủ nhẹ dạ. Đang buổi loạn lạc mới vừa yên, dân tình còn phấp phỏng nguy cơ chiến tranh Mông Cổ sẽ tái diễn, nên tin đồn từ đó càng lan rộng, làm xôn xao bá tánh nhiều nơi, rồi lâu dần tập nhiễm thành tín điều dị đoan cho đến nay.
NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHIẾN TỆ ĐOAN PHÁT TRIỂN
Lý giải căn nguyên một hiện tượng mê tín phát triển thành phong tục tâm linh là việc ngoài khả năng người viết bài. Tuy nhiên, bởi đây là công việc các nhà văn hóa, xã hội học phải làm, mà chớ thấy họ đả động gì, kẻ này đành xăm mình đưa ra vài nhận định:
1. SỢ HÃI THẾ LỰC HUYỀN BÍ: Không giải thích được các hiện tượng tự nhiên, nên người xưa đã gán chúng cho các thế lực vô hình. Tự mình tạo ra thánh thần thôi chưa đủ, người ta còn tạo thêm ma quỷ để phụng thờ và khiếp sợ. Tâm lý sợ hãi vô cớ đó đọng lại và di truyền trong tiềm thức, tạo thành một vòng luẩn quẩn: vì sợ hãi nên tôn thờ, càng tôn thờ càng run sợ siêu nhiên.
2. MONG MUỐN CHUỘC LỖI: Công ơn cha mẹ quá to lớn, khiến người ta cảm thấy mình hèn mọn khó lòng đền đáp[11]. Thêm vào đó là nhịp sống hối hả của văn minh cứ cuồn cuộn, con người hiếm khi có dịp được bộc lộ tình cảm cách cụ thể. Mãi khi cha mẹ đã khuất núi, người ta mới giật mình tưởng nhớ tới thâm tình và công ơn trời biển thì đã muộn. Cảm giác tự cho mình bất hiếu này càng dày vò, người ta càng cúng tế rình rang, để vừa mong “chuộc lỗi”, vừa “làm gương” cho con cháu mình.
3. NIỀM TIN MÙ QUÁNG: Phần đông người ta lười động não, cứ tập tục của người đời trước truyền lại, thì người đời sau không cần phân biệt mỹ tục hay hủ tục, đều tin đó là đúng - “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Áp lực của “thế giới tâm linh” vì thế theo nhau đè nặng, họ đành nhắm mắt làm theo, không tìm hiểu chi thêm phiền.
* * *
Từ chỗ là ngày hội vui mừng báo hiếu, khế hợp ý nghĩa đẹp đẽ từ bi của Tăng-Đạo, tháng Bảy vốn rộn ràng sinh khí đã bị trục lợi để biến thành tháng của tai ương chầu chực, với đủ thứ kiêng cử lãng dang[12]. Thích Ca khi xưa [nếu thật có giảng] Vu-lan-bồn, dạy thế nhân mượn nhờ thần lực uy nghi của mười phương đại đức, phổ độ đến vong linh nơi địa ngục; ngài có ngờ đâu, ngày nay sự tình đảo lộn, thành ra vong linh dưới địa ngục lại trồi lên dạo chơi quậy phá dương thế.
Nếu thật sự những kiêng kỵ trong tháng Bảy là “phong tục tâm linh” của dân tộc, thì đây là loại “tâm linh” tiêu cực, hù ma nhát quỷ, khủng bố tinh thần người ta. Trút bỏ được nỗi khiếp sợ ma quỷ vu vơ đi, người ta sẽ có một tháng Bảy tích cực lạc quan trên trần thế nhiệm mầu.
_______
[1] Tàu có tục dùng tên hoa để mệnh danh cho các tháng trong năm: tháng Giêng là Liễu nguyệt, tháng hai Hạnh nguyệt, tháng 3 Đào nguyệt, tháng 4 Mai nguyệt, tháng 5 Lựu nguyệt, tháng 6 Hà nguyệt (Hà 荷 là tên khác của hoa sen), tháng 7 là Lan nguyệt, tháng 8 Quế nguyệt, tháng 9 là Cúc nguyệt, tháng 10 Dương nguyệt (do hoa phù dung còn có tên là Tiểu dương 小陽), tháng Một là Gia nguyệt (Gia 葭 tức cỏ lau - Phragmites communis), riêng tháng Chạp lấy lễ tế tất niên (Đại lạp 大臘) làm trọng nên có tên là Lạp nguyệt.
[2] Nguyên văn: 「是月也,農乃登穀。天子嘗新,先薦寢廟。命百官,始收斂。完堤防,謹壅塞,以備水潦。修宮室,壞牆垣,補城郭。」
[3] Theo ý riêng người viết bài: Thời xưa có nhiều rắn rít trong bụi rậm bò ra, mà điều kiện y tế lại kém, nên việc đóng cửa ở yên một chỗ vào mùa mưa cốt để phòng ngừa khỏi bị độc vật cắn mổ mới là nguyên nhân chính.
[4] Không hiểu do đâu, ở Việt Nam gọi thành “an cư kiết hạ”, việc phiên âm sai này dẫn đến nhận định không chuẩn về nguyên nhân và ý nghĩa của an cư.
[5] Vu-lan-bồn là phiên âm từ tiếng Phạn Ullambana. Trong đó, Vu-lan nghĩa là “treo ngược lên”; bồn là pháp khí dùng để cứu độ. Vu-lan-bồn nghĩa là pháp khí dùng để cứu độ kẻ bị cực hình treo ngược.
[6] Mục Kiền Liên tôn giả muốn cứu độ cha mẹ để báo đáp ơn sinh thành dưỡng dục, bèn dùng Huệ nhãn quán chiếu thì thấy mẹ mình là Thanh Đề đang phải đọa địa ngục. Bà không có thức ăn nước uống, chỉ còn da bọc xương. Mục Liên đau xót, bưng bát cơm đầy xuống dâng, nhưng Thanh Đề chưa kịp cho vào miệng, bát cơm đã hóa than hồng. Mục Liên vội quay về thuật lại với Phật. Thích Ca bèn giảng Vu-lan, bày cho phép cứu tế mượn thần lực mười phương chư tăng để giúp Mục Liên cứu độ mẹ mình.
[7] Quan niệm về “ngụy kinh” trong Phật giáo có khác với các tôn giáo khác. Kinh 經 là lời thốt ra kim khẩu bậc giáo chủ, tôn sư. Ngụy 偽 ở đây không phải dối trá, như kiểu dung trong “ngụy quân”, “ngụy quyền”; mà là không phải chính thống. Do vậy, “ngụy kinh” trong Phật kinh là: những kinh được nghi không phải do chính đức Phật trực tiếp thốt ra mà thôi; chúng vẫn có giá trị nhất định, không thể hoàn toàn phủi bỏ, phủ nhận được.
[8] Tiết đây là Lễ tiết 禮節, khác với 24 Tiết khí 節氣 trong năm.
[9] Nguyễn Du - Văn chiêu hồn.
[10] Xà tộc 畲族: một trong 19 sắc tộc lớn ở Hoa lục. Từ đời Đường đã có ghi chép hiện hữu đông đảo của họ ở Phúc Kiến (chiếm hơn 52% dân số tỉnh này). Người Xà sinh sống chủ yếu bằng đốt rừng làm rẫy. Ngàn năm trước, họ có ngôn ngữ riêng nhưng nay đã thất truyền, hiện thời phải dùng ngôn ngữ của Miêu tộc (H’mông). Người Xà nổi tiếng về y thuật, điểm đặc biệt là chỉ phụ nữ mới được hành y, và nghề này chỉ truyền cho con dâu chứ không truyền lại cho con gái ruột mình. Đến nay vẫn còn dấu vết tập tục bí truyền y thuật này, qua trang sức cài 3 lưỡi dao ngắn trên mái tóc phụ nữ Xà tộc.
[10] Theo biên khảo “Người Mân Nam” của Lâm Tái Phục, Tam Dân thư cục (Đài Loan) xuất bản, 1984《閩南人》林再復, 三民書局.
[11] Thơ Mạnh Giao đời Đường:
誰言寸草心 Thùy ngôn thốn thảo tâm
報得三春暉 Báo đắc tam xuân huy
(Ai bảo tấm lòng tấc cỏ/ Báo đáp được nắng ba xuân? – Du tử ngâm).
[12] Một trong hơn chục bài của báo chí nhà nước: “Những điều kiêng kỵ và nên làm trong tháng cô hồn”

Thể ます chuyển sang thể て

ます


1グループ nhóm 1

ます =かきます = write = viết 
いて=かいて
ます= arrive = tới nơi
いて
ます=ききます= listen = nghe
いて=きいて
ます=はたらきます=work = làm việc
いて=はたらいて
ます=あるきます= walk = đi bộ
いて=あるいて
*ます=いきます= to go = đi
って=いって (đặc biệt mỗi mình nó)
ます=いそぎます= Hurry up = nhanh lên
いで=いそいで
ます=およぎます=swim= bơi
いで=およいで


ます=のみます=drink= uống
んで=のんで
ます=よみます= read = đọc
んで=よんで
ます=やすみます= rest = nghỉ
んで=やすんで
ます=よびます = call = gọi
んで=よんで
ます=あそびます=play = chơi
んで=あそんで


ます=とります=Take= chụp
って=とって
ます=かえります=go back = trở về
って=かえって
曲がます=まがります= Turn = rẽ
曲がって=まがって
ます=あいます=meet = gặp
って=あって
ます =かいます=buy= mua
って=かって
ます=ならいます=learn = học
って=ならって
ます=まちます= wait = đợi
って=まって
ます=もちます=hold = cầm
って=もって
ます=けします=to erase= dập
して=けして
ます=はなします= talk = nói
して=はなして


2グループ nhóm 2

食べます=たべます= eat = ăn
食べ=たべて
寝ます=ねます= Sleep = ngủ
=ねて
教えます=おしえます= teach = dạy
教え=おしえて
見せます=みせます= show = cho xem
見せ=みせて
開けます=あけます= open = mở
開け=あけて
閉めます=しめます=close = đóng
閉め=しめて
つけます= turn on = bật lên
つけ


*見ます=みます=watch = xem
=みて (đặc biệt vì có âm nhưng lại biến đổi giống kiểu đuôi )
*います= có
*起きます=おきます= get up = dậy
起き=おきて
*借ります=かります= borrow = mượn
借り=かりて


3グループ nhóm 3
chỉ có 2 động từ thôi
しますdo = làm
勉強します=べんきょうします= study = học
勉強し=べんきょうして
散歩します=さんぽして= go for a walk = đi bộ
散歩し=さんぽして
来ます=きます= come = đến
=きて