Thứ Năm, 26 tháng 2, 2009

Máu của quốc gia

 
Khi giáo sư Trần Đại Nghĩa còn sống ông đưa ra khái niệm "yêu nước về mặt kinh tế". Nếu áp dụng khái niệm này vào mấy đại gia xuất khẩu than (bao gồm cả mấy cái công ty nhà nước cũng dính vào) và các cơ quan ban ngành tạo điều kiện cho xuất lậu than, thì bọn này đích thị là những kẻ không yêu nước, thậm chí gọi là "bán nước" cũng không ngoa.

Nước ta đến 2015 là phải nhập khẩu năng lượng, vậy mà hôm nay vẫn "bán máu giá rẻ" ào ào?????
Vậy mà không dân nào dám nói, càng không dám ngăn cản.

Hôm rồi đọc BBC 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam ... chat.shtml
Thấy Lê Doãn Hợp nói:
"...hai mục tiêu chính trong quản lý blog: hạn chế bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc cá nhân, đặc biệt cá nhân những người đứng trong bộ máy công quyền, người đại diện cho dân; và hạn chế tuyên truyền, vận động chống phá nhà nước, ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc và phát triển kinh tế."

Vậy có thể dịch ra là: "cấm nói xấu cán bộ, cho dù họ có làm sai", việc đó không phải là của báo chí, để từ từ rồi cán bộ sẽ "khiển trách" sau.

Hay như đơn cử chuyện không đưa tin khi chưa có lệnh 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam ... tion.shtml

Vụ Công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương (PCI) của Nhật hối lộ quan chức Việt Nam.
Phía Nhật đã chỉ đích danh cái ông "dân" nhận tiền hối lộ, nhưng phía VN dường như vẫn án binh bất động.
Phải trường hợp khác, mấy tờ lá cải của VN dịch tin của nước ngoài nhanh lắm.

Chặt phá rừng để sắm nhà lầu xe hơi cho một số "dân".
Khi lũ quét xảy ra chết mất mấy trăm mạng người, xóa sổ nhiều khu vực dân cư, trường học...
Tại ai? Tại ông trời gây họa, chẳng tại ai cả đâu...
Có đau xót không?

Tài nguyên khoáng sản như than, quặng, cao lanh,... là máu của quốc gia. Ngày ngày vẫn cứ ầm ầm chảy ra nước người với giá rẻ.
Chúng nó mua về đắp chiếu để đấy vì rẻ quá.
Rồi vài năm nữa, chúng ta vặn răng ra mà mua lại để dùng.
Chẳng biết mấy ông "dân" ấy có mắt hay không? Hay là lương tâm vất cho cẩu nó sực mất rồi?
Có đau xót không?

"Liệu chiến tranh có xảy ra khi bọn Tàu ngày càng quá đáng trên Biển Đông"

JB Minh: "... liên tục ngư dân Việt Nam bị bắn chết, vụ cảnh cáo BP, Exxon Mobil... d-ang hợp tác với Việt Nam tìm kiếm dầu trên biển D-ông trong thời gian gần d-ây cho thấy dấu hiệu một cuộc chiến d-ang tới gần. Nhưng mọi chuyện vẫn chưa d-ộng tĩnh nhiều chỉ vì Olympic d-ang rất gần kề..."

Để nói về chuyện này, chúng ta thử đem ra so sánh với việc Medvedev và Putin nện Saakashvili: Nguyên nhân vì sao, kiếm cớ gì, mục đích của cuộc chiến, vì sao Saakashvili không bị lật đổ như Saddam Hussein...

1. Cái bẫy của Medvedev và Putin 
http://www.nhipcauthegioi.hu/modules.ph ... t&sid=1528

"Vài giờ trước khi cuộc chiến bùng nổ, tổng thống Saakashvili đã kêu gọi ban lãnh đạo Nam Osseitia hãy ngừng các cuộc tấn công. Ông cũng hứa rằng nếu từ bỏ sự đối đầu, Nam Ossetia sẽ được nhận quy chế tự trị một cách rộng rãi. Tuy nhiên, lời kêu gọi ấy đã không nhận được hồi âm: ngược lại, những cuộc oanh tạc nhằm vào các làng bản Gruzia ngày càng gia tăng. Chỉ sau những biến cố ấy, quân đội Gruzia mới mở cuộc tấn công thủ phủ Tshinvali của Nam Ossetia.

Các chuyên gia chính trị Phương Tây có ý kiến không đồng nhất về cuộc chiến: một số người cho rằng Saakashvili đã quyết định tái giành quyền kiếm soát Nam Ossetia trong trạng thái quá bực tức, không tỉnh táo, và sa vào bẫy của Nga; trong khi, số khác lại đoan chắc rằng trong thực tế, tổng thống Gruzia không còn lựa chọn nào khác, và nếu không "ra tay" thì Gruzia sẽ mất cả phần còn lại của tỉnh Ossetia."


Một cái bẫy to như thế được giăng ra, cuối cùng cũng sập được Saakashvili.
Các đảng đối lập trong quốc hội Gruzia mặc dù chẳng hề thích sự cai trị của Medvedev và Putin, nhưng cũng lên tiếng chỉ trích Saakashvili là "hành động như trẻ con".

Cũng cùng kịch bản như vậy, bọn Tàu liên tục gây hấn ở Biển Đông.
Cứ vài ngày lại có một "tàu lạ" đâm chìm tàu cá Việt Nam, chết và mất tích cả chục người.
Liên tục các tàu cá bị hải quân Tàu khựa bắt vì "vi phạm chủ quyền". Chủ quyền gì mà dài như lưỡi bò vậy Hồ Cẩm Đào?
Cũng may, "dân" ta tuy đối nội chẳng ra gì, nhưng được cái đối ngoại là bám váy tốt.
Như cựu thứ trưởng Trần Quang Cơ nói "không phải bình thường hóa, mà là phụ thuộc hóa quan hệ".
Thế nên không có hành động "trẻ con" như Saakashvili.
Thậm chí, năm 1988 khi quân Tàu tấn công 3 đảo Cô-lin, Len-đao và Gạc-ma thì chiến sĩ cũng được lệnh là "ôm cột cờ" thôi chứ không được làm rụng lông chân của lính Tàu.
Kết quả là 3 chiến sĩ hy sinh, 3 tàu hải quân chìm, 70 chiến sĩ mất tích, sau Tàu trả lại 9 người còn 61 người chắc đã nằm lại với mẹ biển. Tàu chiếm Gạc-ma, VN giữ được Cô-lin và Len-đao.


2. Mục đích: Mục đích chính của Medvedev và Putin không phải là bảo vệ công dân Nga ở Nam Ossetia mà là nhằm "lấy lại ảnh hưởng của Nga đối với các quốc gia lân cận" đồng thời "giết gà dọa khỉ" răn đe các nước khác trong mối quan hệ với phương Tây.

Nhưng mục đích của Tàu là nuốt trọn Biển Đông khai thác tài nguyên khoáng sản và khống chế đường hàng hải quan trọng trong khu vực.

3. Vì sao Saakashvili không bị lật đổ?
Phải chăng Medvedev và Putin còn chưa đủ lực và chưa ngụy tạo được chứng cớ giả giống như Bush đã làm đối với Saddam Hussein?
Vậy khi "đàn em" bất tuân "đàn anh" nữa thì Tàu có diễn lại kịch bản uống máu người không tanh bằng cách chống lưng cho Polpot để lật đổ Norodom Sihanouk rồi giết hơn 2 triệu mạng người Cam-pu-chia. Liệu sẽ có một Polpot version 2 ở VN?

Hay vì Gruzia là một nước dân chủ, Saakashvili được phổ thông lá phiếu của chính dân Gruzia bầu lên. Do đó các nước phương Tây ủng hộ và ngăn cản không cho chuyện lật đổ xảy ra.
Vậy chúng ta có nên "dân chủ hoàn toàn" để đổi lấy sự ủng hộ của phương Tây. Giống như Phi-lip-pin họ chẳng cần phải hệ lụy gì với Tàu.

Tất nhiên Tàu hay Tây đều không cho không ai cái gì.
Nhưng Tàu thì muốn cướp hết, chiếm toàn bộ. Còn Tây thì muốn hợp tác, cùng khai thác, lấy phần nhiều, và không ảnh hưởng gì đến nhân mạng.

Vậy bài toán nào nên giải?


KHÔNG CÓ KẺ THÙ LÂU DÀI
KHÔNG CÓ BẠN MÃI MÃI
CHỈ CÓ LỢI ÍCH QUỐC GIA LÀ VĨNH CỬU

http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100102

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2009

Lại chuyện lá cờ




Trong khi thảo luận với bạn bè trên khắp nẻo cuộc đời, lão gặp một số câu phát biểu có phần hơi chính trị, nhưng lại thiếu tấm lòng của những người vốn là cùng con cháu lạc hồng:

1. Hoa Kỳ là nước công nhận cờ vàng ba sọc đỏ tại 1 số tiểu bang. Vậy lá cờ nào đại diện cho nước Việt Nam tại đại sứ quán Việt Nam ở Hoa Kỳ?

2. Cờ 3 que giờ chỉ là phế tích của chính quyền Sài gòn ngày xưa, bây giờ họ mang đi phe phẩy để tự lừa dối mình, họ ảo tưởng sẽ có một ngày thành lập trở lại nước VNCH trước kia.


3. Hiện tại những người sống lưu vong ở Hoa Kỳ từ sau 75, chỉ qua là Hoa Kỳ thực hiện chính sách nhân đạo và không bỏ rơi mà thôi, chứ thật ra Hoa Kỳ chẳng mặn mà gì với một đám người của chế độ cũ đâu nhé. Sống chỉ chật đất Hoa Kỳ và ăn bám xã hội Hoa Kỳ.



4. Nước Việt Nam chúng ta có quan hệ hợp tác với 186 nước trên khắp thế giới, là thành viên của 63 tổ chức quốc tế. Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam hiện đang bay phất phới cùng hàng trăm quốc kỳ khác của các nước trên thế giới (UN, UNDP, UNFPA, UPU, ASEM, ASEAN, WTO), hay tại các nước mà Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao trong đó có cả Mỹ. Thì việc cái lá cờ 3 soọoc gì đó chẳng qua chỉ là 1 thứ vứt đi và không còn ý nghĩa đối với cộng đồng quốc tế và người dân Việt Nam nữa.


5. Những tiểu bang công nhận cờ vàng ba sọc đỏ của người VN chỉ đơn thuần công nhận một biểu tượng di sản văn hóa của một nhóm người mà trước đây họ đã sống dưới bóng lá cờ này. Nay họ đến đây và đã có nhiều đóng góp to lớn cho địa phương nơi họ cự ngụ.

Lão nhận thấy khá nhiều bạn phát biểu thiếu trung lập, đôi khi thể hiện trình độ hiểu biết thấp kém trong những lời phát biểu. Và một vài phát biểu có tính miệt thị.
Những người có nhân tâm thông thường sẽ không có những lời lẽ kì thị, hay miệt thị như vậy.

Trước tiên chúng ta nói về lịch sử quốc kỳ:

Đất nước chúng ta bắt đầu thời kỳ độc lập lâu dài từ năm 938 sau khi Ngô Vương Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.
Từ đó nước ta có quốc hiệu là Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Đại Nam rồi Việt Nam như ngày nay.
Tuy nhiên về quốc kỳ thì lại không có qui định rõ ràng lắm, hoặc là có mà lão chưa được biết.
Các triều đại của VN từ năm 938 đến nay là Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Nguyễn, và sau đó là thời cận đại.
Lão chưa được biết về một công trình nghiên cứu nào về lá quốc kì xưa, lão chỉ một lần vô tình nhìn thấy quốc kỳ của triều Lý (hình ở đây http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100091
 ). Nó giống như bất kì một lá cờ cổ điển nào và có chữ "Lý" ở giữa cờ.

Bắt đầu từ triều đại Nguyễn, năm 1802, thời vua Gia Long bắt đầu có qui định về quốc kì (trước đó có hay không lão chưa được biết). Xem hình các lá cờ của Việt Nam từ thời 1802 đến nay trong link
http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_k%E1%BB%B3_Vi%E1%BB%87t_Nam
Có thể nhận thấy ngay lá cờ vàng 3 sọc đỏ là có từ khi nào.

Tại sao những người VN ở xa tổ quốc lại có đền thờ quốc tổ Hùng Vương, thiết lễ Phật Đản Sinh vào ngày 8 tháng Tư Âm lịch, tôn vinh phụ nữ vào ngày giỗ Trưng Nữ Vương, cúng lễ Vu Lan vào ngày rằm tháng Bảy giống như người Việt trong nước, chỉ khác là họ không thờ lá cờ đỏ sao vàng?
Những người ấy là ai? Và vì sao họ không chấp nhận lá cờ đỏ sao vàng? Chúng ta nên tìm đọc nhiều hơn về lịch sử.
Nhưng có một điều chắc chắn là lá cờ đỏ sao vàng ngày nay chỉ mới trở thành hiệu lực trên toàn cõi VN từ năm 1976.
Vậy không có lý do gì bắt những người Việt không sống ở VN từ 1976 đến nay phải thờ nó.
Và một số đông người Việt khác mà người ta vẫn gọi là "thuyền nhân" cũng không thờ lá cờ đó. Câu chuyện về "thuyền nhân" là một trong những câu chuyện nhiều máu và nước mắt nhất trong lịch sử.

Các đại sứ quán, lãnh sự quán của Việt Nam tất nhiên là phải treo cờ đỏ sao vàng, vì họ đại diện hợp pháp cho chính quyền VN hiện nay.

Việc một số chính quyền ở các tiểu bang ở Mẽo, hay Úc chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng dễ hiểu, vì ở đó là những nước dân chủ, họ là chính quyền do dân bầu lên, bởi vậy họ phải chấp nhận những "yêu cầu hợp pháp" của dân. Những chính quyền đó họ không phủ nhận chính quyền VN đương đại, nhưng họ cũng không thể phủ nhận cộng đồng người Việt nước sở tại.

Ai nói người Việt ở nước ngoài "ăn bám" chính quyền nước sở tại là hoàn toàn thiếu kiến thức.
Lão chưa thấy ở đâu lại có nhiều người không phải làm mà cũng có ăn như ở nước ta vậy.
Ở VN chỉ cần tên là quan thì người ta xếp hàng đến biếu tiền. Còn ở những nơi như Mẽo, Úc, Anh, Đức, Pháp... làm đến tổng thống như Sarkozy mà đôi khi chào người dân còn không được người ta chào lại.

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2008

Người tốt... - Hồi thứ tư - Đứa con của cỏ dại



Tiểu Yến Tử ngả đầu vào vai Công Tử Bột hơi thở đều đều nhẹ nhàng, cô thiếp đi trong giấc ngủ bình an lúc nào không hay. Ngoài khơi xa những con tàu vẫn bập bềnh trên sóng nước, gió đẩy mây trôi lững lờ về phía cuối chân trời. Thủy triều bắt đầu dâng, những con sóng ì oạp vỗ vào những tảng đá ven bờ xung quanh nơi họ ngồi. Sau lưng họ, mặt trời bắt đầu lặn dần xuống bên dưới những rặng thông già cỗi. Bóng hai người đổ dài trên mặt nước, tóc Tiểu Yến Tử từng sợi nhẹ bay theo làn gió thoảng. Họ vẫn ngồi bên nhau lặng im như một cặp nhân tình đang trong mùa sim chín. Cô gái vẫn đang chìm sâu trong giấc ngủ thiên nhiên khiến cho Công Tử Bột không dám động cựa, mặc dù hắn đã cảm thấy khắp mình mẩy đau nhừ và tê cứng. Bầu trời xám xịt của biển đầu mùa đông đã bắt đầu nhuộm đen báo hiệu một đêm dài sắp buông xuống, gió nhẹ se se lạnh mà sao Công Tử Bột lại lấm tấm mồ hôi trên trán. Hắn cởi chiếc áo khoác định choàng sang cho cô. Chính hành động ấy đã khiến cô tỉnh giấc, nhìn sang thấy hắn có dấu hiệu của sự mệt mỏi, cô cười hỏi:
- Em ngủ quên đi mất, có lâu không anh?
- Chừng 20 phút.
- Mà anh ngồi im cho em dựa?
- Ừ.
Cô phá lên cười giòn tan như trẻ lên ba, lẫn trong tiếng cười nắc nẻ "anh... ngốc... quá... đi... ha ha..."
- Thôi em phải trở lại trong đó đây. Khi khác gặp nhau, em sẽ kể chuyện khác cho anh nghe.
Cô vụt chạy đi, chạy trở về với cuộc sống thường nhật mà cô vẫn nói là "tẻ nhạt", để lại hắn ngồi một mình nơi bãi đá không người qua lại.
Ngồi một mình nhìn ra biển, bao nhiêu hình ảnh trong kỷ niệm cứ vùn vụt trôi qua. Kể ra tuổi thơ của hắn cũng khá là vất vả, nhưng có lẽ chẳng thể so sánh với những cuộc đời như Tiểu Yến Tử. Trong ký ức của hắn, từ khi hắn bắt đầu có thể nhớ được thì hắn đã là cậu bé chăn bò. Có những lúc mải chơi đuổi bắt chuồn chuồn với đám trẻ trong xóm để bò cột một nơi vặt trụi cỏ trong bán kính của cái dây sỏ mũi mà bụng vẫn chưa no. Tối về, thấy bò đói, bị mẹ đánh mà hắn cứ trơ ra. Thi thoảng sau bữa cơm mẹ hắn đọc mấy câu "có những ngày trốn học, đuổi bướm cầu ao. Mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc..." hắn nghĩ thầm "ông nhà thơ ấy bốc phét, làm quái gì mà phải khóc". Thời bao cấp, người ta phải làm đủ thứ để vượt qua cái đói, nhà hắn tuy là gia đình công nhân, nhưng cha mẹ hắn cũng khai hoang được hai sào đất nơi gần chân núi, một năm cũng hai vụ lúa một vụ rau. Trong nhà cũng nuôi một con bò đẻ và vài con lợn thịt, vì vậy hắn và em gái của hắn cũng chẳng kém gì trẻ nhà nông. Cũng cấy, cũng làm cỏ lúa, cũng gặt, cũng đập lúa, cũng xay thóc, cũng giã gạo, rồi cũng rong ruổi hết cánh đồng này đến cánh đồng khác để vớt rau về chăn lợn. Nhưng so với cuộc đời của Tiểu Yến Tử thì hắn hạnh phúc hơn rất nhiều, vì hắn luôn luôn sống trong tình yêu thương vun đắp của cha mẹ. Còn Tiểu Yến Tử thì chưa đến hai mươi, đã phải vật vã một mình đương đầu với thế giới tệ nạn của xã hội, mong kiếm chút tiền gửi về giúp cha mẹ nuôi đàn em nhỏ. Gánh nặng gia đình trong xã hội hiện đại lại đè lên đôi vai của một cô gái xuân thì mảnh khảnh, tuổi chưa nhiều, nhưng gió bụi cuộc đời nhiều hơn tuổi. Nhẽ ra ở lứa tuổi của cô là mái trường đại học, là "giấc mơ vươn tơi một tương lai". Hắn thầm nghĩ "không biết cô ấy có mơ ước gì không?" Rồi hắn lại tự trả lời bằng một câu nói của vị mục sư nổi tiếng Luther Martin King, trên đời này ai mà chẳng giống nhau, tất thảy đều "I have a dream". Có điều hắn chưa được nghe Tiểu Yến Tử kể về giấc mơ của cô mà thôi.
Mải đuổi theo những suy nghĩ miên man, bóng đêm xập xuống lúc nào không hay, thủy triều lên cao, gió mạnh, sóng đập vào gềnh đá làm bắn nước lên chỗ hắn đang ngồi, buộc hắn phải đứng dậy trở về với hiện tại. Chẳng muốn nhập bọn với cái đám đầu tóc bóng mượt, áo trắng cổ cồn, môi trơn nhẫy ngoác ra cười ha hả, tay nâng ly chúc nhau mấy câu xáo rỗng "chúc hội nghị thành công tốt đẹp". Đúng là cái trò vẽ ra để cùng nhau tiêu xài lãng phí tiền thuế của dân. Báo cáo năm nào cũng giống nhau, năm nào cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch, năm nào cũng hoàn thành "nhiệm vụ chính trị". Khỉ thật, tại sao lại có những thứ người dạy nhau nói dối, dối người, lừa dối chính mình, rồi "tự sướng" đến mấy chục năm rồi mà không biết chán nhỉ? Quá chán với những trò hề lặp đi lặp lại, hắn một mình lấy xe trở về thành phố, trở về với gia đình nhỏ của hắn, nơi ấy có cô bồ trăm năm và hai đứa con nhỏ mà hắn yêu thương rất nhiều.

Ngồi một mình trong phòng làm việc, hắn lại lửng lơ nghĩ miên man, bởi nhiệm vụ được giao hắn đã hoàn thành nhưng chưa đến hạn báo cáo. Ở cái chế độ này người dở cũng như người hay, chẳng ai muốn làm việc tích cực. Lương công chức thì vẫn vậy, nhưng nếu làm việc tích cực và báo cáo sớm thì chỉ tổ gánh việc cho người khác, vừa thiệt thân, lại vừa trở thành đối tượng để bọn xu nịnh nó tấn công. Chúng lại xì xào "dạ thưa sếp, hình như hắn có ý đồ nhòm ngó cái ghế của sếp nên mới tích cực như thế để tâng công với lãnh đạo". Trước đây lúc mới ra nghề, hắn cũng hăng say lắm, sếp giao việc cho một tuần, hắn chỉ làm chưa đầy hai ngày là đã xong, rồi báo cáo ngay. Nhưng bây giờ, đời dạy cho hắn phải biết làm kẻ ngu.
Lật lật cuốn sổ công tác, vô tình nhìn thấy dòng địa chỉ nguyệch ngoạc Tiểu Yến Tử viết cho ngày nào. Câu nói "hôm nào rảnh anh ghé chơi", vậy mà cái "hôm nào" ấy vẫn chưa đến. Đồng hồ chỉ mười giờ sáng, đã bắt đầu là giờ "chém gió" của đám "cổ cồn trằng" rồi đây, bảo Việt Nam sao cứ nghèo mãi. Hắn vơ chiếc áo khoác, quyết định hôm nay sẽ thực hiện cái "hôm nào" đã hứa ấy.

Khu nhà cho thuê ở phía cuối con hẻm. Có đại gia nào thừa tiền chẳng biết làm gì mua được mấy trăm mét vuông, xây ba dãy nhà cho thuê xếp thành hình chữ U, ở giữa là một cái sân chung. Ở đây cũng đủ các thành phần và cũng đủ mọi miền quê tụ tập. Có những cặp vợ chồng vốn ở quê ra làm ở khu công ghiệp rồi gặp nhau rồi lấy nhau thế là dẫn nhau đến đây thuê nhà ở. Có gia đình đã có trẻ con thế là bà ngoại lại phải ra ở cùng để bế cháu. Một gia đình, ba thế hệ chui rúc trong một căn phòng chừng mười tám mét vuông.
Phòng khác thì có mấy cậu sinh viên cùng thuê chung cho giảm bớt chi phí ăn học. Cũng có mấy cô sinh viên thuê phòng ở đó. Vì vậy chiều chiều, mấy cậu sinh viên rất hay mở nhạc trong phòng thật to rồi mang ghế ra ngồi ngoài cửa hướng sang phòng nữ sinh cố hát ông ổng mấy bài hát "tình yêu cóc nhái" mà giới học đường đang khoái nghe. Mấy bà già ở quê lên thành phố nhặt đồng nát kiếm sống qua ngày, đã mệt mỏi vì rong ruổi cả ngày, chiều về mong chút thư giãn nhưng lại phải hứng chịu thứ âm thanh chẳng ra ếch cũng chẳng ra chão chuộc, chẳng giống ai ấy dần dần cũng phát cáu. Thế là hàng xóm lại nghe mấy câu chửi đổng "cha bố cái đám được cha mẹ nuôi cho ăn học, thế mà học không lo học, lại thích làm vịt kêu đầu ngõ, chó cắn đầu đình". Một số gia đình đã bắt đầu mang bếp than tổ ong ra quạt. Than non cháy tạo ra khí CO là thứ khi rất độc xông vào mọi nơi khiến cả khu bắt đầu húng hắng ho. Một cậu sinh viên thò đầu ra kêu ca "thời buổi này ai cũng dùng bếp ga, vậy mà còn lắm người lạc hậu thế không biết". Thế là lại lời qua tiếng lại, thứ âm thanh hỗn tạp chiều nào cũng nhiễu loạn nơi cuối con hẻm này.
Tiểu Yến Tử và mấy cô bạn cùng nghề ở chung với nhau tận mấy phòng cuối dãy. Lúc đầu khu dân cư xóm trọ ấy cũng "tình người tha hương lắm", nhưng chẳng hiểu sao dần dần dân trong xóm đều cố tình lánh xa mấy phòng của mấy cô gái son phấn lòe loẹt ấy. Họ xì xào bàn tán và ném về phía các cô những cái nhìn khinh rẻ. Họ bảo con gái con đứa gì mà quần áo ngắn cũn cỡn, quần thì quần soọc, áo thì quai dây, hở hang quá mức. Mỗi sáng chị em Tiểu Yến Tử đều mang chổi ra quét sạch sẽ cái ngõ và cái sân chung của cả xóm, đấy cũng là lúc mà trong các phòng lại rộ lên tiếng ồn ào. Đám đàn ông con trai, ngồi trong nhà mà cổ cứ vươn ra ngoài cửa, mắt thì trợn thô lố dán chặt vào nhưng chiếc cổ áo rộng của những cô gái đang lúi húi quét đường. Mấy bà mấy chị thì lại được dịp xỉa xói "bầy đặt quét mới chả tước để cố tình khoe hàng". Đám chị em Tiểu Yến Tử cũng thừa biết những gì đang xảy ra bên trong những ô cửa kia, chính vì vậy các cô lại càng ngày càng thích khiêu khích nhiều hơn, lúc trước thì cũng chỉ mỗi sáng hai người ra quét, bây giờ thì hai người quét nhưng mấy người khác ra lượn lờ, quần áo thì toàn mặc những thứ nhẽ ra chỉ mặc trong nhà. Khiến cho những người phụ nữ khác trong xóm trọ càng nóng mắt nhiều hơn.
Đúng là thói đời thật lạ! cùng là những người cùng khổ vậy mà họ cũng chẳng thể thuận hòa với nhau, chợt đâu đó vang lên câu ca trong vở kịch "Ngựa người, Người ngựa"
"... Nhìn ta khác nhau một trời,
Nhưng lòng riêng cũng giống nhau mà thôi..."

Sáng hôm ấy khu nhà trọ cũng vắng vẻ yên tĩnh như mọi khi, mọi người đều đi làm chỉ có bà già trẻ em và mấy chị em Tiểu Yến Tử ở nhà. Công Tử Bột vào đến giữa sân đứng nhìn quanh một lúc tìm số phòng, rồi dắt xe đi thẳng về phía cuối dãy. Từ bên trong một căn phòng đang mở cửa, một cô gái vận đồ mầu hồng bước ra chặn đầu xe hắn và hỏi:
- Anh kia tới đây tìm ai có việc gì?
Hắn chưa kịp trả lời thì trong phòng đã léo nhéo tiếng của vài cô gái "tìm em đấy", "của em đấy, chị Hồng ơi!". Rồi ba cô gái nữa chạy ra, một cô áo xanh lá, một cô áo xanh biển, một cô áo hoa. Cô gái có tên là Hồng lại nói:
- Đây là Bích, đây là Lam, đây là Xuân, còn em là Hồng, anh kiếm ai nào?
- Xin lỗi các bạn, Tiểu Yến Tử còn ở đây không?
- Ah...
Các cô gái reo lên rồi chạy vụt vào phòng, trong đó vọng ra tiếng nhốn nháo "Tiểu Yến Tử, chàng của mày đến kìa", "chúng mày vớ vẩn, tao làm gì có chàng nào", "rõ ràng người ta hỏi thăm mày mà"... Tiểu Yến Tử xuất hiện, trên mặt lộ rõ vẻ ngạc nhiên rồi phá lên cười giòn tan như trẻ lên ba:
- Ah... chào anh! anh ngốc!... đây là anh ngốc mà có lần tao đã kể cho chúng mày đấy. Thật không ngờ là anh lại nghé thăm cái xóm bụi đời này. Mời anh vào trong này. Anh thông cảm, tụi em đàn bà với nhau ăn ở luộm thuộm lắm.
Mấy cô gái cùng ồ lên một lượt "là chàng Công Tử Bột thích nghe chuyện cổ tích đây sao?". Công Tử Bột xách túi hoa quả đưa cho Tiểu Yến Tử "anh có chút quà" "đến thăm tụi em là quí rồi, bày đặt quà cáp làm chi". Hồng có vẻ là chị cả lúc này lại lên tiếng:
- Anh thông cảm nhé! cả đời tụi em gặp toàn những kẻ bụi bặm, bỗ bã nó quen rồi, vừa rồi chị em chúng nó hơi sỗ sàng anh đừng giận nhé! Tụi em ở đây có mười đứa ở trong hai phòng thông nhau. Năm đứa kia đi làm ca từ nửa đêm, đến trưa mới về. Lúc đó thì bọn em lại đi làm đến nửa đêm mới về. Kể cũng lạ nhỉ! tại sao một người sống trong thế giới "danh môn chính phái" lại có thể làm bạn với gái giang hồ tụi em được nhỉ?
- Nói chung mọi người cứ hẹp hòi trong suy nghĩ, nên mới chia thành ra tầng nọ lớp kia, chứ thực ra nếu suy xét đến tận cùng thì tất thảy mọi chúng sinh đều như nhau cả thôi. Với lại "danh môn chính phái" chắc gì tất cả đều tử tế. Thậm chí cái chiến trường của đám "danh môn chính phái" còn kinh tởm hơn tất cả những gì mà người ta có thể tưởng tượng ra ấy chứ.
- Úi thôi! em chẳng hiểu được những gì anh nói đâu, nhất là cái câu "mọi chúng sinh đều như nhau", nghe như có mùi bên đạo. Chỉ biết một điều anh đã đến đây là bạn của Tiểu Yến Tử thì cũng là bạn của bọn em. Bây giờ cũng sắp đến giờ chuẩn bị cơm trưa, anh ở lại ăn trưa với tụi em, anh ăn gì để mấy đứa nó chuẩn bị?
- Àh... lạc rang muối, đậu trắng luộc, canh rau gì đó.
- Oạch... anh ăn uống như tù nhân vậy á?
- Hi hi... sao lại tù nhân, anh vẫn ăn vậy mà.
Tiểu Yến Tử bầy dĩa hoa quả lên bàn "anh ấy ăn uống như vậy thì chuẩn bị nhanh thôi, hôm nay anh ngốc đến tận đây, vậy chị Hồng ưu tiên kể chuyện cổ tích cho anh ấy nghe đi!"
- Được rồi, vậy em sẽ kể anh nghe câu chuyện xảy ra ngay trong khu trọ này. Anh biết đấy, "tình yêu" với bọn em là cái gì đó vô cùng xa xỉ. Đàn ông chỉ coi bọn em là một món hàng, một thứ đồ chơi, giải buồn trong giây lát. Mà cũng phải, như em đây mới hai mươi mốt cũng đã sắp thành gái già hết đát, cuộc đời trải qua tay bao kẻ, vần lên vật xuống chẳng thể nào mà nhớ hết. Tự bọn em cũng coi mình chẳng phải là người thì làm sao mong người khác yêu thương tôn trọng mình. Tự bọn em ném tuổi thanh xuân vào vũng bùn nhơ nhuốc, đợi đến khi quá lứa nhỡ thì, chẳng còn gì nữa thì trở về quê, nếu ai rước thì lấy đại người ta gọi là có để sống nốt quãng đời còn lại...
Giọng nói đầy chua xót đắng cay của một cô gái giang hồ cứ đều đều trôi qua trong tĩnh lặng, Công Tử Bột không dám nhìn thẳng vào người nói chuyện, mặt hắn cứ cúi gằm xuống đất, cứ như thể hắn là người có lỗi trong cuộc đời khổ nhục của mấy cô gái đang ngồi quanh hắn.
... Tuy là thứ "xa xỉ", tụi em chẳng dám mơ, nhưng nếu lỡ may mắn có được thì cũng "họa phúc khôn lường" anh à. Trước đây, trong nhóm tụi em có một đứa xinh lắm, nó có cái nét đẹp ngây thơ trong sáng thánh thiện như những cô gái "kim chi ngọc diệp" vậy. Và tên nó cũng giống như người là Diệp Chi. Nhưng khổ một nỗi, làm cái nghề này thì nhan sắc cần thật, nhưng phải là nhan sắc của giang hồ, của bờ bụi, của đầu đường xó chợ, chứ nhan sắc kiểu tiểu thư thì chỉ có rước họa vào thân. Diệp Chi rất đắt khách, thậm chí có những đại gia bỏ tiền bao nó cho nó cùng đi du lịch sang tận Singapore để gặp đối tác làm ăn. Tất nhiên nó cũng chỉ là thứ đồ trang sức bên cạnh các đại gia mà thôi. Diệp Chi nó đẹp nhưng cũng lại là đứa hiền mà tốt tính. Mấy chị em sống với nhau, nó là đứa có nhiều tiền nhất. Một phần tiền kiếm được nó gửi về nuôi mẹ ở quê, một phần nó gửi vào ngân hàng để tính chuyện lâu dài mai sau, một phần nó góp với mọi người để chi tiêu cuộc sống chung. Phần đóng góp của nó bao giờ cũng nhiều nhất. Chính vì thế nên mọi người ai cũng thương con nhỏ Diệp Chi. Nhiều khi ngắm nhìn nó mấy đứa lại chép miệng "uổng cho nhan sắc trời ban, bị dày vò trong vũng bùn nhơ nhuốc. Tuy nhiên Diệp Chi nó cũng không bi quan gì. Mọi người sạch sẽ đều coi bọn em là mấy thứ nhơ nhuốc, nhưng bọn em đã chấp nhận cuộc đời này thì bọn em vẫn phải vui vẻ mà vượt qua. Diệp Chi cũng thế, nó luôn hòa nhã vui vẻ với tất cả. Nhiều khi có đứa nào gặp chuyện bất bình về đến nhà thấy được nụ cười của Diệp Chi thì bao nỗi bực bội dường như tan biến hết. Nhiều khi tụi em cũng thấy xót xa cho nó, đẹp như nó, hiền như nó, tốt như nó mà sao lại lạc chân vào con đường này?
Thế rồi bước ngoặt cuộc đời xảy ra vào mùa hè của bốn năm trước...
Tùng Đăng là sinh viên năm cuối trường Đại học Hàng hải. Tùng Đăng có ngoại hình cực kỳ hoàn hảo, cao 181cm, da trắng, tóc đen thẳng, hàm răng trắng, khuôn mặt điển trai như diễn viên điện ảnh Nam Hàn. Với ngoại hình bắt mắt nên Tùng Đăng được chọn vào ban chấp hành đoàn trường. Năm đó trường Hàng hải tổ chức trại hè ngoài Đồ Sơn, Tùng Đăng là thành viên ban tổ chức phụ trách mảng trò chơi vận động trên bãi biển. Trời xui đất khiến, hôm đó Diệp Chi cũng theo một ông quan lớn ra Đồ Sơn du hí. Họ vô tình gặp nhau, nhìn nhau đắm đuối, để rồi qua vài câu chớp nhoáng họ đã kịp ghi lại số điện thoại liên lạc. Thật kinh ngạc khi Tùng Đăng không hề chấp nhặt quá khứ của Diệp Chi. Hai người tính chuyện hoàn lương, họ thuê chung một căn phòng để ở, Diệp Chi xin vào học lớp trung cấp kế toán. Diệp Chi vứt bỏ số điện thoại cũ, cắt đứt mọi quan hệ trong giang hồ, cô lao đầu vào học mong sao có thể vươn lên trong giới sạch sẽ để không làm xấu mặt chồng. Họ tuy chưa cưới, nhưng đã ở chung và gọi nhau là "vợ ơi", "chồng ơi" thật là tình cảm vô cùng. Đám gái giang hồ bọn em cũng mừng cho Diệp Chi và thầm khấn trời cho cô ấy luôn được bình an.
Ban đầu hai người chi tiêu bằng số tiền tiết kiệm của Diệp Chi, nhưng miệng ăn núi lở, chỉ ăn mà không làm thì bao nhiêu cũng hết, hơn nữa Diệp Chi rất chiều chồng, cô sắm cho Tùng Đăng toàn đồ hàng hiệu, thậm chí còn mua xe SH cho chồng đi học. Thế là chỉ chốc lát số tiền tiết kiệm đã tiêu sạch, cô phải đi làm thêm để trang trải cuộc sống. Bưng bê chạy quầy, rửa bát, lau dọn ở các nhà hàng là công việc vất vả mà tiền công thì bèo bọt nhưng cô vẫn gắng vượt qua. Cứ như vậy họ sống với nhau vui vẻ đầm ấm.
Tùng Đăng tốt nghiệp đại học, anh mang hồ sơ đi xin việc, khi đi thì hồ hởi, khi về thì ỉu xìu. Nhìn cảnh chồng ngược xuôi vất vả mà không được toại ý, Diệp Chi lo lắng vô cùng mà không biết phải làm sao.
Một buổi chiều muộn, cô nhận điện thoại từ chồng:
- Vợ à! em cầm cho anh ít tiền lên nhà hàng Thiên Cung nhé!
- Có việc gì vậy?
- Anh mời ông trưởng phòng tổ chức của Công ty vận tải biển ăn tối, để nhờ ông ấy giúp đỡ. Ngày trước còn sinh viên, gặp ông ấy, "chú chú, cháu cháu" vui vẻ lắm, nhưng bây giờ mình đi xin việc thì có vẻ không hài lòng với cái hồ sơ không có gì bên trong. Vì vậy phải mời ông ấy một bữa để hứa với ông ấy là sau này sẽ có hậu tạ. Mà em cũng diện vào đến đây ăn luôn, khỏi phải nấu cơm tối.
Diệp Chi vội vàng chạy vạy vay được năm triệu, cô lo số tiền đó còn chưa đủ, thôi thì vì chồng có lãng phí cũng phải nghiến răng.
Nhà hàng Thiên Cung, phòng VIP số 3, máy lạnh điều hòa, chỉ có Tùng Đăng và gã sếp phì nộn ngồi đối diện nhau, trên bàn là một chai Chivas 21 đang uống dở cùng một số đĩa "sơn hào hải vị". Diệp Chi mở cửa bước vào, cúi đầu chào:
- Cháu chào chú!
Gã sếp ngửng lên, hắn sững sờ trước khuôn mặt khả ái và thân hình cân đối yêu kiều của cô, cằm hắn trễ xuống khiến cái mồm hắn hở ra để lộ mấy miếng cua bể đang nhai dở. Đôi mắt hắn dán chặt vào từng đường cong trên thân hình nảy nở của Diệp Chi, ánh mắt hắn long lên như thể muốn xé toạc bộ đầm mà cô đang vận. Hắn bị nhan sắc của cô hớp hồn đến nỗi Tùng Đăng giới thiệu mấy lần hắn không nghe thấy.
Diệp Chi kéo ghế ngồi xuống cạnh chồng, đối với cô, hình ảnh của bọn quan lại dâm đãng này chẳng có gì là lạ, vậy mà hôm nay sao cô thấy kinh tởm. Gã sếp thấy Diệp Chi đã yên vị mới quay qua hỏi Tùng Đăng:
- Em này là...
- Dạ đây là vợ cháu. Còn đây là chú Quách Tráng trưởng phòng tổ chức...
- Chú cháu gì, đã bảo cứ gọi là sếp, xưng em là được rồi! Vợ à? Sao hồ của cậu lại ghi là chưa có gia đình?
- Dạ, thưa sếp, chúng cháu... à... chúng em mới ở chung, chứ chưa cưới, chưa đăng ký nên chưa viết trong hồ sơ.
- À... thanh niên thời đại mới khác hẳn bọn tớ ngày xưa... Ơ kìa... hai em... uống đi chứ... uống... kệ nó... cứ uống cho đã... mọi chuyện tính sau.
Cả ba người cùng nâng ly, gã sếp mắt vẫn dán chặt vào Diệp Chi, miệng ngoác ra cười ha hả. Ai biết trong đầu của gã sếp đang tưởng tượng ra những gì! Ba người tiếp tục cuộc nhậu với mỗi tâm trang khác nhau. Diệp Chi thì xót xa cho sự lãng phí của đồ ăn thức uống, chắc sẽ bị chém với cái giá cắt cổ. Tùng Đăng thì chỉ mải tung hứng những câu xu nịnh theo đà khoác lác của gã sếp. Còn gã sếp thì rượu vào lời ra hắn "chém gió" vù vù, bão giật cấp mười hai chắc cũng còn thua. Ai cũng bảo đám sếp đỏ tay nào cũng "ăn như rồng cuốn, mà chém gió thì như rồng bay" quả thật không sai. Hắn khoe khoang rằng hắn là trưởng phòng tổ chức thôi nhưng quyền lực thì ngang với ông tổng, thậm chí hắn bổ nhiệm luôn cả chức giám đốc hiện thời. Đang trong lúc chém gió phăng phăng như vậy nhưng hắn vẫn luôn không thể dời được ánh mắt dâm đãng của hắn ve vãn lên bộ ngực phập phồng dưới làn vải cô-tôn của cái đầm màu xám tro trên người Diệp Chi.
Trước đây, lúc còn ngụp lặn trong giang hồ, chuyện uống vài ly rượu đối với Diệp Chi rất là bình thường, nhưng sao bữa nay mới uống có 3 ly cô đã thấy choáng váng, phải chăng do có sự thay đổi nội tiết nên thành ra như vậy? Mắt cô hoa lên chỉ như muốn chực đổ xuống bàn, cô phải gắng hết sức để tỉnh táo để tránh người ta đánh giá không tốt về mình...

Những tia nắng ban mai xuyên qua ô cửa kính chiếu thẳng vào mặt khiến Diệp Chi bừng tỉnh. Đầu nặng như đeo sắt, cô hé mắt nhìn, không phải là căn phòng của cô và Tùng Đăng thuê, trên người không còn mảnh vải, nhìn sang bên, cô giật mình khi thấy gã sếp còn đang thở phì phò như bò đang ngủ. Vơ vội mớ quần áo, chạy vào buồng tắm, cô căng đầu ra nghĩ mà vẫn không nhớ nổi chuyện gì đã xảy ra.
Mặc quần áo lên người, bước ra khỏi buồng tắm, gã sếp đã tỉnh giấc, mắt cô long lên bắn những tia căm giận về phía gã sếp, cô gằn giọng hỏi:
- Chuyện này là thế nào?
- Em thấy anh thế nào - gã sếp trơ trẽn cười hềnh hệch hỏi và bồi thêm - đổi tình lấy việc làm cho chồng em cũng xứng đáng đấy chứ...
Cô lao ra khỏi phòng còn nghe thấy gã sếp nói với theo:
- Lần sau anh cần, gọi em phải tới đấy nhé...
Về đến phòng trọ, Tùng Đăng vẫn còn vùi trong chăn, ngủ ngon lành như không hề có chuyện gì xảy ra. Cô giận dữ lao đến, kéo hắn ngồi dậy và gào lên:
- Vì muốn xin được việc mà anh nỡ dâng vợ cho kẻ khác sao?
- Em làm sao vậy - Hắn nói bằng giọng ráo hoảnh - việc này với em đơn giản như "thò tay lấy đồ trong túi", trước nay em vẫn thường làm đó thôi.
Mặt đất như sụt xuống dưới chân cô, cuộc đời của cô vốn như một kẻ chết đuối trôi sông, gặp được hắn tưởng như vớ được một cây cọc vững trãi giữa dòng, bấu víu vào đó để trao gởi tình yêu và niềm tin, niềm hy vọng vào cuộc đời. Vậy mà hắn vốn chỉ coi cô như một con điếm không hơn không kém. Cô đã định chờ đến lúc hắn xin được việc làm, để thông báo với hắn rằng cô đã mang thai đứa con của hắn. Cô còn tưởng rằng hắn sẽ vui mừng thế nào khi có "song hỷ lâm môn". Nhưng bây giờ thì tất cả đã hết. Đuổi hắn ra khỏi phòng, quăng hết đồ đạc tư trang của hắn ra, cô khóa trái cửa nhốt mình trong phòng, cô khóc hận cho sự bạc bẽo của cuộc đời. Tùng Đăng vơ đồ đạc lủi thủi bước đi. Hắn thầm nghĩ "mình chẳng mất gì, nhưng kể ra cũng hơi tiếc, đang được cơm no bò cưỡi, giờ lại phải tìm đứa khác để nhờ cậy".
Đám con gái giang hồ xúm vây trước cửa phòng trọ, gọi hỏi thế nào Diệp Chi cũng không mở cửa. Cô nói vọng ra: "em không sao, mọi người cứ về đi!"

Chỉ một ngày sau cô mở cửa bước ra, mắt đã cạn khô, lạnh lùng, khóc như thế là quá đủ, cuộc đời không đáng tin, cô không cần phải đau khổ vì nó nữa. Trái tim cô đã hóa thành băng đá lạnh. Diệp Chi nhờ Hồng chở mình đến bệnh viện phụ sản để giải quyết cái thai. Bệnh viện yêu cầu phải có chồng ký vào giấy bệnh viện mới làm. Diệp Chi và Hồng lại cùng nhau đến phòng khám tư. Lúc đang ngồi chờ ở phòng khám tư nhân, Tiểu Yến Tử gọi điện đến "Chi à, mình bảo thật nhé, Thằng bố nó khốn nạn, nhưng nó không có tội tình gì, bạn cứ đẻ nó ra, tất cả đám gái giang hồ này sẽ là mẹ của nó. Dù nó là con trai hay con gái chúng mình cũng sẽ nuôi nó lớn lên thành người tử tế". Được lời của Tiểu Yến Tử, Diệp Chi như bừng tỉnh, Diệp Chi nghĩ: nếu cô bỏ đứa con này, nhỡ đâu về sau mãi mãi cô không có con nữa thì sao? mà Tiểu Yến Tử nói đúng "đứa trẻ đâu có lỗi gì". Diệp Chi vụt đứng dậy bước ra khỏi phòng khám, chỉ là một bước chân nhỏ bé vậy mà cô tưởng như mình vừa bước sang một bầu trời khác, cô tự hứa với lòng mình, đời cô tuy nhơ nhuốc nhưng cô sẽ nuôi dạy con cô thành ông nọ bà kia, đó mới là cách trả thù cuộc đời đúng nhất.
Cô quyết định giữ lại cái thai và quyết định vẫn ở lại một mình nơi phòng trọ, và một quyết định quan trọng nữa là cô không quay lại con đường xưa. Diệp Chi phải bỏ học vì không còn tiền, cô tiếp tục kiếm sống bằng việc bưng bê và rửa bát tại các nhà hàng. Cái thai ngày một lớn, cai bụng to không dấu được ai, chủ nhà hàng không cho cô ra bưng bê nữa, bắt cô chỉ được ở trong bếp để rửa bát, cũng như vậy tiền công cũng giảm theo, cô vẫn cắn răng chịu đựng chờ đến ngày "khai hoa nở nhụy". Nhìn Diệp Chi kềnh càng vác cái bụng hàng ngày đi làm, tụi gái giang hồ bọn em không khỏi lo lắng. Tính tháng, đếm ngày, có lẽ cũng sắp đến kỳ sanh nở, Tiểu Yến Tử bí mật được bố trí về quê để đón mẹ của Diệp Chi.
Cẩm Sơn là một làng vạn chài ven biển miền Trung. Nắng, gió và cát là những thứ quá thừa thãi ở nơi này. Bà Thành sống một mình trong một căn nhà nhỏ phía cuối rặng phi lao kế ngay bên bãi cát. Trong nhà chẳng có thứ gì đáng tiền nên bốn phía căn nhà lúc nào cửa cũng mở toang hoang. Ông Thành cưới bà làm vợ và đưa bà về đó sống cùng khi bà mới hơn 20 tuổi. Không lâu sau khi cưới ông bà đẻ được một cậu con trai tên là Biển, rồi vài năm sau có thêm Diệp Chi. Từ lúc Diệp Chi mới được sanh ra, mọi người trong làng đã bảo "con bé đó không phải người ở đây" bởi dân làng chài ai ai cũng đen là đen, mà Diệp Chi nó cứ trắng mơn mởn như búp sen vừa hé nụ. Tuổi thơ của Diệp Chi thật là quá êm ả. Hàng ngày cô đến trường cùng đám bạn của làng vạn chài. Bà Thành mẹ cô thì bầy bán mấy món đồ khô hải sản tại ngay cửa nhà cho khách du lịch đi ngang qua. Ông Thành và Biển thì nhập vào đoàn người đánh cá, mỗi lần ra khơi thì cả tuần mới về. Kinh tế gia đình chẳng có gì đáng nói. Tất thảy đều tự cung tự cấp. Nhà bà Thành cũng như đa số hộ dân trong làng phải nói là nghèo chuyển kiếp. Thế nhưng, mặc kệ nghèo, họ vẫn sống yêu thương nhau đơn giản như rau muống biển vẫn bò miệt mài trên bờ cát.
Nhưng trớ trêu thay, chẳng biết là nhân họa hay thiên họa, biến cố đau thương ập đến cái gia đình nhỏ đó khi Diệp Chi 15 tuổi. Đó là lần ra khơi cuối cùng của ông Thành và Biển. Những người đi cùng về kể lại tàu của ông Thành bị một tàu hải giám của Trung Quốc đâm chìm lúc đêm khuya khi tất cả mọi người đang say giấc nồng. Tất cả 9 người trên tàu đều mất tích. Bà Thành ngã vật ra đất bất tỉnh. Diệp Chi ôm mẹ nấc lên từng tiếng nghẹn ngào. Từ đó trong căn nhà đã vắng lại càng thêm trống trải.
Học hết lớp 12, Diệp Chi quyết định theo đám bạn ra thành phố làm "công nhân". Nhưng thật tiếc ở thành phố đâu phải là nơi có sẵn việc làm như các cô tưởng. Và thế là Diệp Chi trở thành một "công nhân bán hương bán phấn" từ đó. Thỉnh thoảng Diệp Chi gửi tiền về cho mẹ, bà Thành chẳng dùng để làm gì lại gửi vào ngân hàng, bà tự nhủ "để sau này gả chồng cho nó". Rồi có vài lần Diệp Chi cùng đám bạn cùng làm kéo nhau về thăm bà. Mỗi lần chúng về là cái làng vạn chài nhỏ bé lại bị quậy tung mù mịt. Bà Thành thương chúng nó như con, bà vẫn nghĩ chúng nó làm công nhân chắc vất vả lắm, bà bảo "các con cứ nghỉ ngơi, để bu đi chợ nấu cơm". Cả đám xúm vào lôi bà lại "bu không phải đi đâu cả, tụi con mua cả đây rồi". Thế rồi mỗi đứa một chân một tay, khói bếp bốc lên nghi ngút, tiếng cười nói ríu rít vang xa, khiến đám trai trẻ trong làng đứng ngồi không yên. Bà Thành mắng yêu "cha bố các cô, lớn cả rồi chứ còn bé nữa đâu, sao mà cứ như chằn cả lượt, chẳng chịu dịu dàng thì làm sao mà lấy chồng. Có đứa nào chịu về ở với bu, bu gả chồng cho." Mấy đứa lại nhao lên "bu ơi, bu kiếm cho con một anh đẹp trai bu nhé!", "không bu ơi! không cần đẹp trai quá, nhưng phải khỏe vạm vỡ bu nhé!"...
Cứ như vậy, chúng nó ầm ĩ mấy ngày rồi lại xách túi ra đi "con ra phố đi làm, bu ở nhà giữ gìn sức khỏe bu nhé!". Bà Thành lấy khăn chấm mấy giọt nước mắt chảy dài trên đôi má của Diệp Chi "nếu khổ quá thì cứ về với bu, về nhà bu con mình no đói có nhau, nhà neo người, mà con lại đi làm xa, nhiều lúc buồn bu chỉ biết lấy ảnh của cha và anh con trên bàn thờ xuống vừa lau vừa nói chuyện". Diệp Chi ôm mẹ, nấc lên thành tiếng "con sẽ sớm quay về với bu"...

Tiểu Yến Tử bước vào nhà, bà Thành chắc là chạy đâu đó sang hàng xóm, đốt ba nén nhang cắm lên bàn thờ, cha và anh hai của Diệp Chi nhìn cô ánh mắt như trách móc "mấy đứa là bạn của nhau sao lại để cho con Diệp Chi nó khổ vậy?". Tiểu Yến Tử cúi gằm xuống đất, cô hoảng hốt khi mỗi lần ngước nhìn hai tấm ảnh trên bàn thờ... Cô xách túi vội vàng lao ra khỏi nhà. Đúng lúc ấy, bà Thành tất tả từ đâu chạy về gọi giật giọng "Yến! sao về thăm bu có một mình? Thấy người trong xóm nói có đứa con gái ở thành phố về, bu đoán ngay là mấy đứa tụi con, nên chạy vội về. Sao chưa gặp bu đã định vội đi ngay thế? Con Chi đâu sao nó không về với con?"
- Bu để con nghỉ chút, từ từ con nói chuyện.
Vào nhà, uống cạn một ly nước, ngồi một lúc lâu, Tiểu Yến Tử mới bắt đầu nói được mấy tiếng:
- Bu à! Diệp Chi nó ốm.
- Sao? Nó ốm? Ốm thế nào? Có nặng lắm không? - Bà Thành luống cuống hỏi dồn dập
- Không. Bu cứ bình tĩnh. Nó ốm nhẹ thôi. Có điều bọn con đứa nào cũng bận cả, nên con tính đón bu ra đó chăm sóc cho Diệp Chi mau lành.
Bà Thành bụng nóng như lửa đốt, chân tay run lập cập, đầu óc choáng váng, mới 50 tuổi mà trông bà già như gần 70. Bà thành nhét vội mớ quần áo vào cái bị cói. Lần lưng quần lấy ra mấy quyển sổ tiết kiệm, bà bảo:
- Bây giờ bu đi ngân hàng rút tiền rồi bu con mình đi luôn hả con?
- Thôi đi luôn đi bu, ngoài đó bọn con có tiền rồi, với lại nếu cần rút tiền thì ra ngoài đó bu cũng rút được. Các sở giao dịch của ngân hàng nó liên thông nhau mà, cứ đúng cùng ngân hàng là được.

"Khăn gói quả mướp" bà Thành vội vã theo Tiểu Yến Tử ra bến xe để bắt xe đi Hải Phòng. Ngồi trên xe chạy mấy trăm cây số, Tiểu Yến Tử cứ ngủ gà ngủ gật dựa đầu vào vai bà. Trong khi bà Thành bụng dạ nóng như lửa đốt, mấy lần bà định hỏi cho rõ xem con Chi nhà bà nó ốm thế nào nhưng thấy Tiểu Yến Tử ngủ ngon quá bà lại thôi.

Vừa vào đến khu nhà trọ, đám con gái từ trong phòng chạy ùa ra đón bà, đứa đằng trước, đứa đằng sau, đứa kéo tay, đứa ôm vai, cứ ríu rít như "đón mẹ đi chợ về".
- Bu có nhớ tụi con không?
- Bu ơi! có quà quê cho tụi con không?
- Bu ơi! con nhớ bu quá à!
- Ừ... tại cái con Yến vừa về đến quê là lôi tuột bu ra đây, đi vội quá bu chẳng kịp chuẩn bị quà, xin lỗi các con vậy!
- Cái con Xuân này, bu còn chưa kịp thở, đã đòi quà, đưa bu vào nhà rửa chân tay cho mát đi!
- Ừ... thế con Chi nhà bu nó đâu rồi, nó ốm thế nào?
- Chị Hồng đưa Diệp Chi lên viện sản để đẻ rồi bu à - Xuân vọt miệng nói ra sự thật.
- Xuân! - Lam vội níu tay Xuân mà không kịp.
Nghe đến tiếng "đẻ", bà Thành choáng váng, giật ngửa người ra đằng sau, may mà lúc đó Thanh đang đứng sau lưng kịp đưa hai tay ra đỡ bà.
Vào đến nhà, bà Thành ngồi phịch xuống giường, gương mặt bà thẫn thờ, hốc hác, bà nói trong hơi thở đứt quãng:
- Sao lại đẻ? Nó lấy chồng hồi nào? Sao nó không bảo gì với bu?
Thanh đáp lời:
- Bu à, chuyện dài dòng lắm, rồi từ từ bọn con kể cho bu nghe. Số phận ngược đãi Diệp Chi quá, nó thật đáng thương. Bu đừng trách mắng nó kẻo nó lại khổ thêm.
- Nó là con bu đẻ ra mà. Bu trách mắng nó làm gì, nó khổ thì bu có sung sướng gì đâu. Bu chỉ trách nó tại sao bao nhiêu chuyện xảy ra không nói cho bu biết, để đến mãi hôm nay đi đẻ rồi mới cho bu hay.
- Chắc Diệp Chi nó sợ bu buồn, sợ bu xấu hổ với hàng xóm láng giềng nên nó giấu bu. Việc đón bu ra đây cũng là bọn con tự quyết định. Diệp Chi nó cũng không biết. Nó mà biết chắc nó trách tụi con lắm.
- Các con đón bu ra là đúng, con đừng lo, "thương con không ai bằng cha mẹ", nhất là lúc này "chửa đẻ là cửa mả". Thôi cho bu lên viện sản!
- Bu cứ nghỉ ngơi, chờ bọn con một chút, trên đó đã có chị Hồng.
(reng reng)... tiếng điện thoại réo lên khe khẽ...
Thanh mở máy nghe:
- Chị Hồng à? Thế nào rồi? Bu đã ra đến nơi rồi, đang ở nhà, lát em đưa bu lên.
- Sao? Đẻ rồi à? Mẹ tròn con vuông hả? May mắn quá! Con trai à? Kháu khỉnh lắm à? Rồi em sẽ đưa bu lên đó liền. Còn Diệp Chi sao? Khỏe mạnh bình thường à? May mắn quá!
Quay ra phía mọi người, Thanh reo lên:
- Bu ơi! Mẹ tròn con vuông rồi! Con trai, 2 cân 9, kháu khỉnh lắm!
Bà Thành không hiểu được cảm xúc lúc này, buồn, vui, xốn xang lẫn lộn, cộng thêm lo lắng cho cuộc sống mai sau. Vậy thế là bà đã có cháu ngoại, nhưng con rể lại chẳng thấy đâu. Rồi từ ngày mai cuộc sống sẽ phải thế nào đây? 

"Nước mắt bao giờ cũng chảy xuôi", mẹ nào mà chẳng thương con. Thế là một lần nữa cuộc đời lại đẩy bà Thành vào công việc đầu tắt mặt tối chăm sóc cho trẻ sơ sinh. Hai lần trước là hai đứa con của bà, lần này là cháu ngoại của bà. Tiểu Yến Tử và đám bạn cũng kể hết tất cả mọi sự thật với bà khiến cho lòng bà lại một lần nữa thấy đau quặn thắt, bà không thể nào tưởng tượng được con gái bà lại rơi vào cái nghề khốn khổ đến thế. Nhìn mấy đứa Tiểu Yến Tử vẫn cứ phải tiếp tục làm cái nghề "khốn nạn" ấy để mà sống qua ngày bà thấy thương chúng nhiều hơn là giận. Ôi! cái nghiệp đã  sanh ra làm hoa để cho đời giẫm đạp, cũng đành cúi mặt mà bước đi chứ biết kêu trách ai bây giờ. Bà nói với đám Tiểu Yến Tử "các con à! bu cũng không ghét bỏ gì các con. Các con vẫn là con của bu. Bất cứ khi nào các con cũng có quyền quay về với bu. Tuy nhiên vì tương lai của thằng cháu Nghĩa, bu mong các con thông cảm cho bu, bu cần phải chuyển con Chi và thằng cháu Nghĩa đến nơi ở mới."
Thế rồi bà Thành chuyển Diệp Chi và cu Nghĩa sang một khu nhà trọ khác. Tháng đầu tiên bà tất bật với việc vừa chăm sóc con, vừa chăm sóc cháu ngoại. Số tiền bà gởi tiết kiệm cũng cạn dần vì thời buổi bao nhiêu thứ phải chi mà cái gì cũng trượt giá vèo vèo. Khi cu Nghĩa vừa tròn đầy tháng, bà Thành bắt đầu phải tất tả ra chợ kiếm tiền. Mỗi sáng bà dậy thật sớm từ lúc 3 giờ sáng để ra chợ đầu mối của thành phố mua một gánh rau người ta mang ở quê ra, rồi bà kẽo kẹt gánh đi rao khắp mọi phố mọi hẻm mong kiếm được đồng ra đồng vào để nuôi sống ba miệng ăn trong gia đình bà. Hôm nào may mắn, khoảng 10 giờ sáng là bà đã bán hết gánh rau, bà lại tất tả mua gạo về nhà thổi cơm cho Diệp Chi, nấu bột cho cu Nghĩa. Thấy mẹ quá vất vả, mới ở có hơn một tháng mà bà Thành đã gầy sọm hẳn đi. Thương mẹ quá, Diệp Chi bảo: "con khỏe rồi, mẹ ở nhà trông cháu để con đi làm". Bà Thành quát: "Gái đẻ phải ở cữ đúng 3 tháng". Không dám cãi lời mẹ, Diệp Chi đành tiếp tục ở nhà ôm con. Bế con trên tay, Diệp Chi cất tiếng ru mà nước mắt không ngừng rơi lã chã:
"Hò... ơ... ngoại già như trái chín cây... gió lay ngoại rụng... mẹ phải mồ côi..."
Vẫn chưa hết ba tháng ở cữ, Diệp Chi quyết tâm bắt mẹ ở nhà để cô đi làm trở lại. Cô vẫn xin được việc chạy quầy và rửa bát trong mấy cái nhà hàng đặc sản trong thành phố. Bây giờ cô phải làm vất vả hơn, phải cố làm tăng giờ vì từ đây những đồng tiền cô làm ra phải chi dùng cho cả ba người. Cuộc sống tuy vất vả, nhưng cả nhà ba mẹ con bà cháu luôn yêu thương đùm bọc nhau. Cu Nghĩa lớn lên từng ngày, "3 tháng biết lẫy, 7 tháng biết bò, 9 tháng lò dò đi bằng cả 2 chân" đúng y như câu nói của các cụ ngày xưa không sai một tẹo nào. Thế rồi cái ngày đầy năm của cu Nghĩa cũng đến. Nhà nghèo, làm không đủ ăn, nhưng Diệp Chi cũng cố lo sắm khá tươm tất cho cái ngày cúng Mụ cho cu Nghĩa. Bà Thành bàn với Diệp Chi không nên bầy vẽ nên cũng chỉ làm mâm cơm nho nhỏ cúng Mụ là xong. Nhưng đám Tiểu Yến Tử thì không mời cũng kéo nhau đến bởi dù sao ở cái xứ "bỉ vỏ" này Diệp Chi cũng chẳng có ai là bạn. Nơi nhà trọ mà ba mẹ con bà cháu nhà cu Nghĩa ở, lại được một ngày rộn ràng đầy ắp tiếng cười tiếng hát, tiếng nói chuyện rôm rả của mấy cô gái giang hồ. Nhìn thằng cháu ngoại lẫm chẫm đi khắp nhà, vui đùa cùng mấy mẹ, mấy dì, lòng bà Thành cũng thấy vui vui...
Những tưởng "hết mưa trời lại sáng", thế nhưng "ở đời nào ai có học được chữ ngờ". Một buổi tối, Diệp Chi đi làm về muộn, đến "ngã tư tử thần", người ta gọi là "ngã tư tử thần" vì ở đó tai nạn rất nhiều, đúng lúc đèn đỏ bật lên, Diệp Chi dừng xe trước đèn đỏ nhưng phía sau cô chiếc xe đầu kéo chở "container" vẫn hung hãn xông tới...
Tin dữ như sét đánh ngang tai, bà Thành quỵ xuống ngất đi, thằng bé Nghĩa mới hơn một tuổi, nhưng có lẽ nó cảm nhận được sự mất mát, nó khóc nức nở hai tay lay gọi bà ngoại đang nằm ngất trên giường. Cu Nghĩa vẫn chưa hiểu từ "mô côi" là gì.
Sau khi chôn cất đứa con gái xấu số, bà Thành suy sụp và yếu đi rất nhiều, bà biết chắc bà cũng không sống được lâu nữa, nhưng không còn cách lựa chọn nào khác, bà vẫn phải cố gắng ra chợ kiếm sống để nuôi thằng cháu ngoại nhỏ dại.
Mỗi sáng khi bà Thành đi, cu Nghĩa vẫn chưa thức giấc, vì vậy bà phải khóa cửa nhốt cu Nghĩa trong nhà. Đến trưa bà về thì đôi khi phải dọn cả phân mà cu Nghĩa bậy ra khắp nhà, rồi mới tắm qua cho nó vì nó bẩn từ đầu tới chân. Rồi sau đó mới nấu cơm hai bà cháu cùng ăn. Buồi chiều lại lặp lại như buổi sáng, bà ra ngoài kiếm sống khi cháu còn chưa thức giấc, lúc trở về lại bẩn thỉu cứt đái từ đầu đến chân.
Mới hơn một tuổi, cu Nghĩa cứ lủi thủi một mình cả ngày trong bốn bức tường. Nhưng ở nó có một sức sống như cỏ dại. Cuộc sống thì thiếu thốn, điều kiện thì tù túng bẩn thỉu, vậy mà nó không hề bị đau ốm gì. Nó gầy, nhỏ và hoang dại hơn đám trẻ cùng lứa, nhưng nó vẫn lặng lẽ lầm lũi sống như ngọn cỏ lầm lũi rẽ đất để vươn lên đón ánh mặt trời. Mỗi lúc thức giấc, nó đều thấy chỉ có một mình, vài ngày đầu thì nó khóc đến mất cả tiếng. Thế rồi miết nó cũng quen dần, nó không khóc nữa, lầm lũi một mình từ góc này sang góc khác trong căn nhà trọ mười mấy mét vuông đó.

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2008

25000 người chết đói mỗi ngày






http://www.youtube.com search keyword: “xem rồi suy nghĩ”
In February 2006
At the 56th Berlin International Film festival
Filmmakers were invited to join a Short Film Competition on the theme:
FOOD, TASTE and HUNGER
3600 Filmmakers from around the world joined the competition. But only 32 films were chosen to be screened at the Berlinale Talent Campus.
This film topped the competition by being adjudged the Most Popular Short Film
Tháng Hai năm 2006
Tại liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 56
Các nhà làm phim được mời tham dự cuộc thi phim ngắn với chủ đề:
Thức ăn, Khẩu vị và CÁI ĐÓI
3600 nhà làm phim đã tham gia cuộc thi. Nhưng chỉ có 32 phim được lựa chọn trình chiếu tại trại sáng tác Berlin.
Phim này đoạt giải nhất với đánh giá là Phim Ngắn Ưa Chuộng Nhất

Bài hát trong phim:
Let me tell their story that no one else can hear. How can someone’s laughter bring me close to tears. And you’ll never know cause you’re never there. After what we’ve seen can we close our eyes again. Let me tell their story you won’t is true. I have not forgotten so I’m sharing it with you. For all the things we know what have we really learned? Though I close my eyes the images remain. And their story… begins again.
Hãy cho phép tôi kể chuyện của họ, là câu chuyện chưa ai khác nghe thấy. Tiếng cười ai đó đưa tôi đến gần với nước mắt như thế nào. Và bạn không bao giờ biết vì không bao giờ bạn ở đó. Sau tất cả những gì chúng tôi đã thấy, chúng tôi không thể nhắm mắt.
Hãy cho phép tôi kể chuyện của họ, bạn khó mà tin được. Tôi không thể nào quên nên tôi chia sẻ nó cho bạn. Cho tất cả những gì chúng tôi biết là những gì chúng tôi học được? Cho dù tôi nhắm mắt lại thì mọi thứ vẫn không xóa nhòa. Và chuyện của họ… lại bắt đầu vào ngày mai.

Around the world
25000 peoples die of HUNGER
EVERY DAY
Trên thế giới này
Hai mươi lăm ngàn người chết vì ĐÓI
MỖI NGÀY

Written (kịch bản), Photographed (quay phim) and Directed by (và đạo diễn bởi): FERDINAND DIMADURA
Original Music Composed (âm nhạc), Arranged (soạn nhạc) and Performed by (và trình bầy bởi): FERDINAND DIMADURA

THIS IS A TRUE STORY

ĐÂY LÀ MỘT CHUYỆN THẬT

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2008

Người tốt... - Hồi thứ ba: Tình mẹ



Hò...ơ... mùa đông... gió lạnh căm căm
Gió đưa cành liễu... ơ.... ờ...
Gió đưa cành liễu mẹ nằm nhớ con...

Chiếc xe khách từ từ lăn bánh qua cổng vào bến cuối là Cầu Rào. Sau hơn 7 tiếng đồng hồ đồng hành cùng nhau, khách lục tục lần lượt rời xe. Giữa trưa trời nắng chang chang, cái nắng gắt của một ngày tháng bảy nóng nực và ngột ngạt. Cũng may, tại cái bến xe này thi thoảng có cơn gió lạc mẹ từ dưới sông thổi lên, thổi bay đi mùi xăng dầu, mùi người, mùi hàng quán,...
- Hì... anh ngốc... bai-bai nhé! cảm ơn anh đã ngồi nghe những thứ linh tinh của em.
- Khoan đã, cho anh địa chỉ đi!
- Ha ha... anh cũng định kiếm gái làng chơi hay sao?
- Em thẳng thắn quá nhỉ! là... anh muốn đến thăm em, có được không vậy?
- Không phải thế chứ? Đàn ông trí thức lại kết bạn với gái giang hồ?
- Trí thức với giang hồ gì chứ! chẳng lẽ người với người lại không được hay sao?
Tiểu Yến Tử chợt trở nên thẹn thùng như gái quê, rồi đưa tay rút quyển sổ và cây viết trên túi ngực của Công Tử Bột. Sau một hồi hí hoáy viết: "Đây là địa chỉ của em" - "Chữ xấu thế, đọc được, chết liền á!... hì... hự..." - "Chúa ơi! con chỉ hay bị vợ nghéo sườn thôi, chứ chưa bị ai đấm thế này bao giờ..."
- Anh có vợ rồi à?
- Anh già rồi mà, một vợ, 2 con nhỏ... Được rồi, hôm nào rảnh anh sẽ đến chơi, chào em nhé!

Nhảy lên xe ôm, công tử nghĩ miên man về những nhân vật trong chuyện mà cô gái đã kể, mỗi số phận, mỗi cuộc đời rất khác nhau, nhưng họ đều là "người tốt". Loáng một cái đã về đến cổng nhà từ khi nào. Tiếng trẻ con trong nhà gọi ba ầm ĩ kéo công tử trở lại với thực tế no đủ hạnh phúc của mình.

Công tử lại bận rộn với công việc hàng ngày, bề bộn với đống giấy tờ ngổn ngang, bạn bè, đối tác... Những công việc đem lại những đồng tiền phục vụ cho cuộc sống của gia đình công tử.
Đôi lúc ngồi một mình trong văn phòng, chợt nhớ đến gương mặt trẻ đẹp pha chút tinh nghịch của cô gái đi cùng xe hôm nào, chàng lại thấy nôn nao, chàng nhủ thầm: "chờ khi nào rảnh mình sẽ đến thăm cô ấy".
Thế nhưng cuộc đời vốn bạc bẽo, cái "khi nào rảnh" ấy nó luôn là ngày mai hoặc tuần sau hoặc tháng sau. Tờ địa chỉ ngoệch ngoạc ấy vẫn nằm im trong quyển sổ điện thoại trong túi ngực của chàng. Nơi cô gái ở, cũng là nơi cô hành nghề kiếm sống ở ngay trong cái thành phố bé tẹo này, vậy mà cái "khi nào rảnh" ấy sao lại khó xảy ra thế!
Thời gian vẫn trôi, chàng vẫn bận bịu, rồi những khi có chút thảnh thơi, chàng không còn ngồi một mình trong văn phòng để nghĩ về những gương mặt bất chợt kia nữa, chàng thích ghé vào các phòng khác để tán gẫu, nhất là những phòng mới nhận thêm các em nữ trẻ mới ra trường. Trước mặt các em, chàng tỏ ra mình là người đầy kinh nghiệm và ga-lăng, chàng lên giọng dạy cho các em những kiến thức nghề nghiệp cũng như những trải nghiệm cuộc đời. Được các em khen một câu là chàng càng hứng chí, càng ba hoa nhiều hơn. Và chàng cảm thấy nhất thời thích điều ấy lắm.

Mùa đông đến, trên Bộ tổ chức họp ngoài Đồ Sơn, cơ quan cử chàng đi họp. Thầm nghĩ: "họp hành quái gì, bầy trò để dải ngân và du hí với nhau". Cầm tập báo cáo được phát từ hôm khai mạc, chàng chọn một chỗ ngồi tận cuối cùng để dễ ngủ gật, vì có gì đáng để nghe đâu.
Đang thiu thiu gật gù, chàng giật mình tỉnh giấc vì đập đầu vào vai ghế của người phía trước. Liếc nhìn đồng hồ... "giờ này mà các cụ còn phát biểu hăng thế!" Rồi chàng len lén chuồn ra khỏi phòng họp.
Gió lồng lộng thổi, chàng kéo phéc-măng-tuya kín cổ chiếc áo gió, thong dong thả bước trong trời chiều. Bước chân dẫn chàng đến mép nước lúc nào chẳng hay. Sóng biển lăn tăn đuổi nhau ùa lên bãi cát. Chàng lại chậm dãi đi dọc theo mép nước. Những con dã tràng thấy động, vội vàng lao xuống biển, cái tổ mà chúng vừa xây lại bị sóng chùm lên, khi sóng rút ra xa, bờ biển lại phẳng lì cát mịn.
Tới cuối bãi cát là ghềnh đá, trên một tảng đá có một cô gái đang ngồi một mình nhìn ra biển. Chàng đang định quay đầu bỏ đi, nhưng như có một điều gì đó níu chàng lại khiến chàng nhìn cô gái thêm một lần nữa. Tuy quen mà lạ, tuy lạ mà quen, mái tóc kiểu Mai-ka... đúng lúc chàng đang phân vân thì cô ngoảnh đầu lại, chàng kêu lên:
- Tiểu Yến Tử!
- A... anh ngốc! làm sao anh biết em ra đây mà tìm?
- À... không... anh xin lỗi vì chưa thực hiện lời hứa đến thăm em. Anh chỉ là vô tình có việc ngoài này. Còn em, sao lại ra đây giữa mùa đông?
- Em... đi khách, có một ông sếp yêu cầu có người phục vụ khi ông ấy họp hành ngoài này... ông ấy đang họp trong khách sạn, em rảnh việc nên ra đây.
Công tử leo lên tảng đá ngồi xuống bên cạnh Tiểu Yến Tử.
- Lần ấy gặp em, được nghe em kể chuyện, anh rất thích.
- Vậy em kể chuyện nữa nhé. Lần trước em toàn kể về mấy người giang hồ bờ bụi, bây giờ em sẽ kể về những người tốt ở cùng đẳng cấp với anh.
- Em lại thế rồi.
- Không phải đâu, dù anh có muốn hay không thì xã hội này vẫn luôn có phân biệt khi nói về những thế giới khác nhau. Thế giới của những người như anh - đàng hoàng và trong sạch, và thế giới lừa lọc và xảo trá của những kẻ giang hồ.
Công tử không cãi lại lời của cô nữa, nhưng những điều cô gái cười cả được bằng môi và mắt này nói khiến công tử suy nghĩ rất nhiều. Người ta vẫn định nghĩa giang hồ là hiểm ác, danh môn chính phái là trong sạch, định nghĩa ấy có đúng thật hay không?...
Tiểu Yến Tử bắt đầu vào câu chuyện:
Anh biết chợ Đổ chứ? Ở chợ đó có một bà cụ già bán ước, bà có một cái lều nhỏ ở góc chợ, vừa là quán nước, cũng là nơi che mưa, che gió cho bà qua đêm.
Năm xưa, bà có 3 người con đi bộ đội. Khi ra đi họ đều nói: "con đi nhé, ngày đất nước hòa bình, con sẽ quay về". Thế rồi chiến tranh đã qua đi, đất nước hòa bình lập lại, ba người con của bà vẫn còn lưu lạc ở đâu. Họ đã nằm lại ở lưng sườn núi nào, hay cánh rừng nào, sao không quay về bên mẹ?
Ai buôn bán ở cái chợ ấy cũng đều biết bà, và biết đến câu chuyện về bà. Ban ngày họ thi thoảng đến uống nước trong cái quán nhỏ của bà, với dăm ba câu chuyện cũng để bà đỡ thấy vắng vẻ. Mấy chục năm qua đi, những người con của bà vẫn chưa về, bà vẫn sống một mình lay lắt nơi góc chợ. Hàng đêm người ta vẫn nghe văng vẳng từ trong chợ mấy câu hò da diết:
Hò...ơ... mùa đông... gió lạnh căm căm
Gió đưa cành liễu... ơ.... ờ...
Gió đưa cành liễu mẹ nằm nhớ con...
Con đi vì nước vì non...
Con đi có biết mẹ còn nhớ thương...
Hò... ơ... ai ơi có đến muôn phương
Gặp con tôi nhắn... ơ ờ...
Gặp con tôi nhắn nhớ đường về quê...
Chẳng biết tiếng hò của bà được gió đưa đi đến tận nơi đâu, không biết những người con của bà có nghe thấy được không?...
Thế rồi...
Tiểu Yến Tử chợt ngừng lại. Cái sự im lặng khiến công tử muốn ngạt thở. Nhưng công tử cũng không dám lên tiếng cắt ngang dòng suy tư của cô.
Thế rồi... vào một đêm đông của 7 năm về trước, (nghĩ thầm: không lẽ họ trở về), khi tất cả mọi nhà đã chìm vào giấc ngủ, gió mùa đông bắc vẫn réo rắt trên các ngọn cây, bà bỗng nghe như có tiếng trẻ con gọi mẹ, tiếng gọi yếu ớt như vọng về từ một nơi xa thẳm. Bà tưởng mình nằm mộng mà ra, nhưng không phải, rõ ràng đó là tiếng trẻ khóc, mỗi lúc một rõ, mỗi lúc một to dần. Bà vùng dậy, khoác thêm chiếc áo, ra khỏi nhà bà hấp tấp đi về phía cổng chợ, nơi phát ra tiếng khóc.
Một đứa bé đỏ hỏn quấn trong mấy cái tã lót, ngoài cùng bọc bởi một chiếc áo phao, tất cả đặt vào trong một cái nôi nhựa. Đứa bé khóc lên ngằn ngặt, có lẽ vì lạnh và thiếu hơi người. Bà vội vàng bế nó lên vừa nựng vừa ru, vừa ngó ra xung quanh. Đêm đông lạnh giá, tịnh không một bóng người. Loay hoay một hồi, bà quyết định bế nó về cái lều của bà. Thay cho nó chiếc tã, rồi bà lấy hộp sữa Ông Thọ của ban thương binh xã hội cho pha với nước phích, bà cặm cụi đổ cho thằng bé từng thìa sữa nhỏ.
Hò... ơ... gió đông... chảy suốt một đời...
Con tôi không thấy... ơ ờ...
Con tôi khống thấy mà người bỏ con...
Sáng hôm sau, bà bế thằng bé lên phường báo cáo, mấy anh cán bộ phường nói: "Có lẽ bà cứ bế cháu về để xem có ai nhận không, rồi có gì chúng tôi sẽ xuống giải quyết sau".
Bà bế thằng bé về, đặt nó ở giữa nhà bà nói: "Vậy là ông trời đã ghép con cho ta, một người mồ côi con, một trẻ mồ côi mẹ, từ nay con ở với bà, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo nghe con!"
Ầu... ơ... mưa lạnh rơi xuống mùa đông...
Vừa mới lọt lòng.... ơ ờ...
Vừa mới lọt lòng đã phải mồ côi...
Bà đặt tên cho nó là Đông Thiên, ý là đứa con trời sinh vào mùa đông. Từ đó bà thay cha mẹ của thằng bé, nuôi nó, chăm sóc nó, với đôi bàn tay già nua gày yếu. Dân buôn trong chợ biết chuyện mỗi người giúp một chút. Bà hàng sữa thì cho cân đường hộp sữa, chị buôn quần áo thì đem cho quần áo, ai buôn gì thì cho thứ ấy. Thằng bé lớn dần lên trong sự chăm sóc của bà và sự bao bọc của người buôn trong chợ.
Thằng bé kháu khỉnh, đôi mắt tròn mơ mộng như mắt trẻ thơ, lại thêm rất ngoan và lễ phép nên trong chợ ai cũng yêu nó. Khi nó biết chạy, biết bi bô, người ta càng quí hơn vì nó thường đem lại niềm vui nhất thời cho họ. Nó chạy hết hàng nọ quán kia hỏi đủ thứ chuyện, nào là "cái này là cái gì hả bác?", "cái này để làm gì vậy cô?"... Nó ở với bà, tuy không đầy đủ, nhưng những thứ cần thiết đều có cả, duy chỉ có một thứ nó không có, đó là nó không có bạn. Đơn giản là vì trong chợ thì không có trẻ con, nó không dám ra khỏi chợ vì bà sợ nó ra phố thì đi lạc mất.
Khi nó 6 tuổi bà cũng muốn cho nó đến trường để học cái chữ. Tháng Chín, bà dắt Đông Thiên đến trường, ông đốc học nói: "Cháu nó không có giấy khai sinh làm sao mà đi học?". Bà lại dắt nó về, bà nhớ trong cái mớ kỷ vật của nó để lại trong chiếc nôi nhựa ngày ấy có thứ giấy tờ gì đó. Bà lục tìm được, đó là tờ giấy chứng sinh của bệnh viện Kỳ Đồng, sinh nhật của Đông Thiên là ngày 22 tháng 12 năm 1998 tuy nhiên nơi viết tên mẹ nó thì đã bị mờ, không đọc được. Mang giấy đó lên phường người ta không làm khai sinh cho thằng bé vì không thể biết được bố mẹ nó là ai. Bà thất vọng quay về... "không lẽ thằng bé của bà sẽ mù chữ hay sao?".
Một năm qua đi, thằng bé vẫn lủi thủi quanh bà, nó bắt đầu thấy tủi thân khi không biết đọc chữ. Thỉnh thoảng có người cho nó những quyển truyện tranh cũ, nó chỉ biết đọc bằng hình. Bà thì già quá rồi, mắt mờ chân chậm, vốn chữ của bà học từ hồi xóa nạn mù chữ chắc cũng chẳng còn bao nhiêu để có thể dạy cho thằng bé.
Ngày Quốc Khánh, một cô giáo trẻ vào chợ, cô đi mua bóng bay túi để chuẩn bị cho ngày khai giảng năm học mới. Thông thường các trường khác sẽ yêu cầu học sinh mỗi cháu phải mua một quả bóng bay mang đến trường ngày hôm ấy. Nhưng với cô thì khác, cô muốn mua cả mấy túi rồi sau đó phát cho các em, để khỏi phiền đến các bậc phụ huynh phải đi chợ vì mỗi một quả bóng bay. Cô làm như vậy vừa tiện lại vừa rẻ. 
Cô ghé vào quán của bà cụ nghỉ chân. Đông Thiên cứ nhìn cô chằm chằm như thể nó được thấy một thiên thần mà trước nay nó chưa hề gặp. Rồi nó đến bên cô:
- Cô ơi, cô tên là gì?
- Cô là Uyên.
- Cả tên cô là gì?
- Cháu muốn hỏi tên đầy đủ của cô phải không? là Trần Lê Liên Phương Uyên.
- Ôi tên cô dài thế, tên cháu chỉ có 2 tiếng, cháu là Đông Thiên.
- Tên hay nhỉ? Cháu học lớp mấy rồi?
- Cháu chưa có đi học?
- Ồ vậy à?
Bà cụ liền kể lại hoàn cảnh của cậu bé cho Uyên nghe. Cô ngồi im, nghe như nuốt từng lời của bà cụ.
- Bà ơi, em ấy xứng đáng được đến trường. Mùng 5 khai giảng, bà dắt em ấy đến trường cháu dạy nhé! Cháu nhất định sẽ xin cho em ấy vào học bằng được.
Nói xong, Uyên cũng thấy hoang mang, cô chưa biết phải làm sao để cho bé Thiên được đến lớp. Cô chỉ là một cô giáo mới ra trường, chưa có biên chế, làm hợp đồng nhà trường, được phân công dạy 1 lớp và kiêm nhiệm công tác đoàn đội. Nhưng cô đã quyết tâm phải xin bằng được cho bé Thiên đến lớp, cô cũng đã nghĩ đến chuyện nếu không được thì cho bé ngồi dự thính trong lớp của cô. 
- Bà cho cháu mượn cái giấy chứng sinh nhé! Đây là chứng minh thư của cháu, bà hãy giữ lấy để làm tin.
- Ôi bà cảm ơn cô quá! Cái giấy chứng sinh này chỉ có ý nghĩa với thằng bé, đối với cô nó có giá trị gì đâu, cô thương cháu thì cô mới giúp cháu, chứ cô được lợi lộc gì. Làm gì mà bà phải giữ chứng minh thư của cô.
Bà cụ cứ nắm lấy tay cô mà cảm ơn rối rít. Thế rồi sau đó là những ngày thắc thỏm mong tin.
Chỉ có ba ngày để cô làm ra phép mầu nhiệm. Cô chạy ngược chạy xuôi tìm đủ mọi cách để làm giấy khai sinh cho thằng bé. Phép mầu thứ nhất xuất hiện khi cô biết được bạn học phổ thông với cô sau khi tốt nghiệp trung cấp y đã về làm y tá ở bệnh viện Kỳ Đồng. Sau khi nghe cô kể chuyện, cô bạn ấy đã dắt cô lên gặp chị quản lý hồ sơ lưu. Lục lọi trong đống hồ sơ đầy bụi bặm họ đã tìm được cái ngày 22 tháng 12 của bảy năm về trước. Chị quản lý hồ sơ nói: "May cho hai cô là cái bệnh viện này bé tẹo nên hôm ấy chỉ có mỗi một ca sinh đẻ". Như có sự sắp đặt của ông trời, hai cô kêu lên ngạc nhiên khi nhìn thấy tên của sản phụ Lê Uyên Phương, một cái tên rất lạ nhưng lại có mấy tiếng trùng với tên cô giáo. Không thấy có tên của người cha. Lần theo địa chỉ mà sản phụ khai trong hồ sơ, hai cô tìm đến một khu ổ chuột ngoài bến Bính, hỏi về người đàn bà tên là Lê Uyên Phương, nhưng không ai biết cả.
Với tờ giấy chứng sinh được cấp lại, hai cô đành rủ nhau lên phường làm khai sinh cho thằng bé. Chú công an hộ tịch vừa mới nhìn thấy tờ chứng sinh đã nạt nộ: "Các cô trông vừa trẻ vừa đẹp, chắc không phải người lạc hậu, tại sao con 7 tuổi rồi mới đi làm khai sinh?". Hai cô lại lần nữa thuật lại câu chuyện cho chú công an nghe. Phép mầu thứ hai xuất hiện, chú công an này vượt qua nguyên tắc hành chính, vượt qua cả nguyên tắc bản thân, làm ngay tờ giấy khai sinh cho thằng bé: "Bây giờ đã cuối ngày, mà ngày mai khai giảng rồi, nếu theo nguyên tắc thì thằng bé sẽ không kịp đến trường, tôi xin phép đóng giùm thằng bé tiền lệ phí khai sinh". Rồi chú đưa cho cô giáo tờ giấy khai sinh kèm thêm 5 bản sao nữa.
Hai cô mừng quýnh, chộp lấy tờ khai sinh, chạy vụt ra ngoài, quên cả chào tạm biệt chú công an tốt bụng.
Phóng như bay trên hai chiếc xe mi-ni, hai cô guồng chân chạy thẳng đến chợ Đổ. Nhìn thấy bà và bé Thiên, hai cô reo lên: "Được rồi bà ơi! Bà xem giấy khai sinh của bé Đông Thiên, vậy là bé có thể đến trường rồi."
Bà run run đón tờ giấy khai sinh còn thơm mùi mực mới trên tay cô giáo... "Ơn Trời, ơn Phật, cảm ơn cô giáo nhiều lắm!"
Đúng theo lời hẹn của cô giáo, sáng hôm sau, ngày 5 tháng Chín bà dắt thằng bé đến trường. Cô giáo Uyên đã đứng ở cổng trường đợi hai bà cháu từ lâu. 
Dắt tay bé Thiên vào lớp, cô Uyên thỏ thẻ: "Từ nay con vào lớp học chữ với cô nhé! Hết giờ học lại về với bà"
Bé Đông Thiên lần đầu tiên xa bà, lần đầu tiên xa cái xóm chợ, lần đầu tiên đi học, nó hoang mang và đứng nép vào bên cô.
Bà cụ đứng ở cổng nhìn theo mãi khi bóng thằng bé theo cô vào lớp. Quay về nhà bà thắp nén nhang lên bàn thờ 3 người con trai. Lần đầu tiên sau mấy chục năm trời, bà thấy lòng mình thật thanh thản...
Ầu... ơ... Trời xanh vén đám mây mù
Bà nuôi con lớn... ơ... ờ...
Bà nuôi con lớn bây chừ học ngoan...
Bà nằm xuống chiếc giường gấp mọi khi, rồi yên tâm đi vào giấc ngủ...

Tiếng của Tiểu Yến Tử nhỏ dần, nhỏ dần, thì thào như tiếng gió ngọt ngào dịu êm. Cô nghiêng đầu một bên, gục lên vai công tử, hơi thở nhẹ đều đều. Sau lưng họ, mặt trời đã lặn xuống phía dưới những rặng cây. Phía ngoài khơi, ánh sáng yếu ớt của vầng trăng đã bắt đầu hé lên.
Hò ơ... Biển hiền vắng vẻ chiều đông
Có anh còn thức... ơ ờ...
Có anh còn thức má hồng ngủ ngon...
Cô gái có ngủ yên trên vai công tử đến sáng hay không, xem hồi sau sẽ rõ. 

http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100165

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2008

Người tốt... - Hồi thứ hai: Cỏ vàng chân mộ chí




Mặt trời đã bắt đầu rót từng cốc lửa ngùn ngụt qua khung cửa kính của chiếc ô tô 45 chỗ ngồi. Lúc khởi hành từ bến Vinh mới có khoảng 2/3 khách, vậy mà bây giờ đã kín, có một số khách đã phải ngồi ghế phụ. Công tử kéo rèm che nắng.
- Này anh ngốc!
- Uầy... cô hai, tui tên là Công Tử Bột!
- Anh có tin vào số phận không?
- Chuyện gì nữa đây?
- Em có quen một chị, chị ấy là A Tử, có chồng rất đàn ông tên Tiêu Phong, hai người yêu nhau lắm, vậy mà người ta nói số phận hai người không được ở bên nhau.
- Tuổi gì vậy?
- Cả hai anh chị đều sinh năm 1982.
- Sách nói rằng: 1982 tuổi Nhâm Tuất, mệnh Đại Hải Thủy. Theo Tiên Thiên Bát Quái của Phục Hy, nam nữ đều cung Tốn, duyên phận: Tốn thú Tốn vi Phục Vị là tốt. Nhưng Hậu Thiên Bát Quái của Văn Vương lại có phân biệt, nam cung Ly, nữ cung Càn, kết hôn xem tuổi đàn bà: Càn thú Ly vi Tuyệt Mệnh, có nghĩa là yêu thương nồng thắm, đứt gánh giữa đường, tử biệt sinh ly. Tình yêu càng sâu đậm càng sớm phải chia tay.
- Anh chị ấy tốt lắm, mà sao người tốt lại không được ở bên nhau. Anh chị ấy gặp nhau cũng rất kì cục.
Ngày ấy, đàn em của anh ấy đến quán của chị ấy chơi, cậu ta không những quịt tiền lại còn chửi nhân viên của chị ấy rất chi là khinh miệt. A Tử một tay tóm cổ cậu kia nhấc lên ném văng dúi đầu vào gốc cây ngoài vệ đường rồi đuổi thẳng cổ, còn đe thêm cấm lần sau mò đến, nếu gặp một lần đánh một lần, chém xẻ đôi thành 2 mảnh.
- Xã hội đen à?
- Không được sao?
Sau đó Tiêu Phong thấy đàn em bị đánh, liền đưa cả bọn đến, chúng hùng hùng hổ hổ như muốn san bằng cái quán lá của A Tử. Nhưng sau khi hiểu chuyện, Tiêu Phong bắt đàn em của mình quì xuống xin lỗi chị chủ quán xinh đẹp liễu yếu đào tơ mà không khuất phục đám đại ca anh chị.
- Bà ấy là Thiết Phiến Tiên chứ liễu yếu đào tơ gì!
- Nói gì thì nói, đàn bà vẫn là đàn bà chứ, có chút ít quyền cước cũng làm sao so được với nanh hùm miệng sói, chứng tỏ A Tử rất kiên cường.
Sau ngày hôm ấy trở về, Tiêu Phong Không biêt được cái gặp nhau ấy là gặp nhau định mệnh. Ông Tơ bà Nguyệt đã buộc sợi dây hồng khiến "trai anh hùng không qua nổi ải gái thuyền quyên".
- Này cô hai tui không thích coi phim Nam Hàn qua cái lưỡi của cô đâu nhé!
- Anh sao vậy, hồi nãy thì cạy không nổi răng, mà bi chừ cứ nhảy dzô cổ họng người ta ngồi là sao?
Từ đó Tiêu Phong thường xuyên đến chỗ của A Tử, hai người thân thiết nhau lắm, tuy biết rằng tương lai cái nghề của họ chẳng đi đến đâu. Nhưng Bác có nói "người ta có quyền mưu cầu hạnh phúc". (thì thầm: mèng đéc ơi! lôi cả ông Côn dzô đây nữa!).
Thế rồi họ quyết định tổ chức đám cưới. Đại ca của Tiêu Phong là Hắc Hổ nói: "anh em mình làm cái nghề này mà đèo bòng thì chỉ thêm khổ người ta, nhưng thôi cô chú đã quyết, anh không cản, hôm ấy anh sẽ diện com-lê tới dự".
Ngày hợp hôn, cái quán lá rộn ràng, nhộn nhịp, chị em chạy ra chạy dzô tíu tít, A Tử xúng xính trong chiếc váy trắng tinh khiết thuê ở tiệm áo cưới Tràng Tiền. Bên nhà trai ai nấy đều hớn hở, mấy anh chàng thường ngày quần jean áo thun, đeo kính đen, hôm ấy cũng phải lột xác thành đám trai lơ hào hoa trong những bộ com-lê đen cài thêm bông hồng trên ngực. Con xe cam-ry 2.4 mượn của Hắc Hổ thuê người ta kết hoa biến thành xe rước dâu. Tiêu Phong hớn hở, cười như vớ được bước lên xe...
- Anh Phong - thằng Heo Mập từ đâu chạy về, mồ hôi vã ra như tắm, nói lắp bắp trong hơi thở gấp - Đại ca Hắc Hổ bị mấy chục thằng trong băng Ngón Chân Út Dính Bùn quây ở bến xe Tam Bạc.
- Đ... mẹ nó, Cá Sấu Đồng mày cứ đánh xe sang bên chị A Tử trước, nói là anh sẽ sang ngay, bọn còn lại theo tao.
Cả đám com-lê ca-vát hùng hục chạy về phía con đường ra bến xe Tam Bạc. Cuộc hỗn chiến nổ ra. Đang tả xung hữu đột trong đám giang hồ, nghe tiếng gió rít lên từ phía sau, Tiêu Phong xoay người 180 độ, đổ trụ sang chân phải né được đòn đánh của chiếc ống tuýp. Đồng thời lẹ tay bắt được ngang chừng chiếc ống, bẻ quặt lại, thằng bé bị đoạt vũ khí, hẫng đà lao đến vô tình bị đầu ống đâm thẳng vào bụng.
Tiêu Phong đỡ lưng thằng bé nằm xuống đất: "Này... này... đừng chết! làm ơn đừng chết!!!!!"
Cảnh sát 113 ập đến, giải tán đám đông, còng tay cả đám đưa lên xe: "từ trước đến giờ mình chưa thấy có tụi nào đánh lộn mà diện thế!"
A Tử lao về phía chiếc xe hòm có Tiêu Phong ngồi sau song sắt, mắt nhòa đi, chân khụy xuống, chiếc váy trắng nổi bật giữa đám loang lổ rằn ri...
"A Tử! hãy đợi anh về!..." - Giọng Tiêu Phong lịm đi để kìm lên tiếng nấc. A Tử chới với đôi tay...
Tội ngộ sát, cộng thêm 1 trang A4 tiền án tiền sự, tòa phán quyết 10 năm tù giam.
Cũng may có cái giấy đăng ký kết hôn, A Tử thường xuyên vào khám thăm nuôi Tiêu Phong. Một vài lần có em đi cùng A Tử, đúng là "gần nhau trong gang tất mà biển trời cách mặt". Tù nhân và thân nhân bị ngăn cách bởi một bức tường lưới mắt cáo. Cách 1,5 mét có một cửa ô vuông nho nhỏ. Qua cái cửa ô nho nhỏ đó họ trao nhau nụ hôn nồng ấm, họ lấy giấy chấm những hạt trai châu từ mắt của nhau. Cửa bên cạnh có một cụ bà đang vươn tay vào vuốt mái tóc bờm xờm của cậu con trai. Lại ở một cửa khác một đứa bé 3 tuổi được mẹ nâng qua ô cửa, chui hẳn vào bên trong cười khúc khích gọi "ba ba..." rồi rụi đầu vào má của cha nó.
Tai họa ập đến, A Tử phát hiện mình bị nhiễm AIDS, chị suy sụp hoàn toàn, cơm không muốn ăn, không còn thèm tắm rửa chi nữa, ngay cả việc thăm nuôi Tiêu Phong là điều hào hứng nhất với chị cũng không kéo được chị ra khỏi giường. Tụi em vô cùng lo lắng. Em thay A Tử vào thăm nuôi Tiêu Phong. "Tiểu Yến Tử, chị của em đâu" - "Chị ấy bịnh, mấy hồi khoẻ lại chị sẽ dzô thăm anh" - "Có nặng không?". Em nín thinh không nói.
Trong cái rủi có cái may, một lần đang nằm trên giường, cái ti-vi trước mặt có một chương trình xã hội, một chị là bệnh nhân AIDS xung phong thanh niên tình nguyện để tham gia chương trình phổ biến phòng ngừa AIDS. Như hấp thụ được luồng sinh khí mới, A Tử vụt chạy ra khỏi giường. Chị đã tham gia vào thanh niên tình nguyện. Ngày trở lại thăm Tiêu Phong, anh vô cùng ngạc nhiên thấy chị gày ốm xanh xao trong bộ đồ màu xanh của thanh niên tình nguyện. Chị vui vẻ, họ trao nhau nụ hôn, nhưng không còn lấy khăn chấm nước mắt nữa: "Khi nào mãn hạn, em sẽ giới thiệu anh với đoàn thể"
Nhưng rồi, bệnh chị đến giai đoạn cuối. Trước lúc ra đi chị nói: "chị chỉ mong một lần được nấu cơm cho anh Phong, anh và chị sẽ quây quần bên chiếc bàn kia"...
Sau 5 năm ở tù, Chủ Tịch nước ân xá, Tiêu Phong trở về, chị không còn ở đó nữa.
Tiêu Phong phủ lên mộ của A Tử chiếc váy cưới mầu trắng tinh khiết.
Mùa đông, chân mộ, cỏ mầu vàng...

Tiểu Yến Tử sẽ kể tiếp chuyện gì, xem hồi sau sẽ rõ.


Comments:

Nguyệt Thu:
Chuyện sao lại xoay ra như vầy, đệ ơi! :(. Tỉ đọc hồi 2 này thấy buồn quá! Câu kết "Mùa đông, chân mộ, cỏ vàng..." làm tỉ liên tưởng tới hai nhân vật: Đạm Tiên trong Truyện Kiều và người vợ yêu của Hữu Loan! Dù có xuất thân khác nhau đến mấy, số phận của những người phụ nữ muốn được yêu thương và muốn dâng tặng tình yêu thương của mình cho những người đàn ông mình yêu cũng bi thảm biết mấy!:(

HPL:
Tỉ ơi! đúng là họ phải chia tay, âm dương cách biệt, nhưng họ không giống nàng Kiều, cũng không giống Đỗ Thị Lê Ninh, rõ ràng A Tử ra đi trong bình thản mà

Nguyệt Thu:
:)
Sao đệ không edit entry lại? Đệ post chỗ comment này sợ là mọi người lại chẳng tìm ra để đọc. Hồi đêm tỉ cũng ngạc nhiên, nhận được mess, vào chẳng thấy hồi 2, tìm xuống dây mới thấy! :)
Cảm ơn đệ, đêm qua, tỉ ngủ rất yên! :)

HPL:
hì... tỉ à! các hồi sau cũng sẽ post lên giống như hồi 2

Cammy:
Đã định không comment vô đây rồi, nhưng hồi hai của lão khiến em "Bực mình" phải comment! :( Câu chuyện tự nhiên trở thành ngang trái! Em không thích những kết thúc như thế này! Chưa kết thúc, nhưng buồn thế này em ko đọc nữa đâu! :( :((

HPL:
Họ đã biến thành một đôi uyên ương hồ điệp bay đùa trên những cánh hoa ban mai ngậm sương lành em ạ!

Viễn Khách:
Eo ôi Lão! Đệ đọc mà nhớ đến những thiên truyện của SV Quốc Học Huế những năm 90 (những câu chuyện viết theo mô típ kiếm hiệp)
Mà sao phần 1 đang vậy mà phần 2 lại vậy. Câu chuyện buồn vậy sao.
Chờ đón phần 3 của Lão

HPL:
UI cha, mới đi honey về mà đã bỏ công ra đọc ký sự của lão rồi à? Lão sẽ cố gắng xuất bản hồi 3 trong thời gian sớm nhất!

Hoa Xuyên Tuyết:
Sao lão ko viết thành entry mà lại viết trong này thế hử?
Lẫn lộn cả rùi!
Chuyện của A Tử, mình lại nhớ chuyện của cô gì ở Hải Phòng, anh hùng châu Á ấy nhỉ? Hừm, tuần hoàn não lại chậm rồi :(

Vụ anh hùng châu Á là chị Phạm Thị Huệ, ở HP. Anh Hùng châu Á năm 2004 thì phải, có lên ti vi mà. Cô ấy là người dám công khai mình bị bệnh và tham gia tổ chức các hoạt động nâng đỡ tinh thần cho những bệnh nhân Aids.Hình như do chồng cô ấy hút chích nên bị nhiễm HIV.

Lão Lan kể chuyện lôi cuốn lắm. Không làm nhà văn thì hơi tiếc!

Phạm Vũ Lưu:
Hehe... Đọc cái này của lão huynh thấy thú vị quá, Lươn tôi cũng vừa làm 1 chuyến xuyên Việt để xem có được gặp và nghe cô bé nào giống thế ko. Kết quả là, đi 1 đường làng học 1 sàng khôn, các cụ bẩu cấm là có sai. Hôm nào cũng phải bắt chước lão huynh viết lại cho bà con đọc mới được

HPL:
Vậy à? xuyên Việt à? thế thì gặp nhiều cái hay lắm, vậy bác kể đi cho anh em thưởng thức với!

Chuồn chuồn ớt:
truyện này buồn quá... nhưng mà truyện của huynh nhân văn thật đấy...
nhưng mà huynh ơi truyện hay mà... cổ kim kết hợp... được cái muội thik truyện buồn hơn chuyện vui... viết đc truyện buồn nó mới thật sâu sắc... truyện buồn thơ buồn lúc nào cũng quyến rũ người ta... thấm đượm tình buồn là bao khoăn suy nghĩ... đáng quý lắm những giá trị nhân văn như thế...