Thứ Tư, 11 tháng 8, 2010

ĐỖ DUY NGỌC - CÓ MỘT NGƯỜI TÊN V.HUY

CÓ MỘT NGƯỜI TÊN V.HUY
Truyện ngắn của ĐỖ DUY NGỌC.
Hắn tên là V. Huy, thật ra tên đầy đủ của hắn là Nguyễn Phúc Vĩnh Huy, vốn là con cháu giòng họ vua chúa triều Nguyễn. Bố hắn là giáo sư tiến sĩ, từng chữa bệnh cho Cụ Hồ. Ông nội hắn là Thượng thư bộ Lại trong triều vua gì đó của nhà Nguyễn. Mẹ hắn cũng là giáo sư nhưng hình như bên ngành Luật, tốt nghiệp từ bên Tây, nghe lời dụ dỗ của Cụ Hồ về nước tham gia đánh giặc. Lí lịch của hắn quá ư là đẹp, vừa quí tộc vừa cộng sản, không chê vào đâu được. Hắn tốt nghiệp Tiến sĩ ngành ngoại giao ở Liên Xô, cũng nghe nói là bằng đỏ đàng hoàng, và chắc chắn là bằng thật. Thế mà hắn lại xổ toẹt cái lí lịch đó, đái lên cái truyền thống đẹp như mơ đó. Hắn không bao giờ chịu thổ lộ cái tên trong khai sinh cho bất kì ai, và luôn luôn tự xưng tên tôi là V. Huy, cắt đứt mọi liên hệ với cái gia đình danh giá. Cũng chẳng biết tại sao. Và mọi người cũng không rảnh thì giờ để điều tra chuyện đó.
Tôi gặp hắn lần đầu trong quán cà phê. Quen qua quen lại mà thành thân gần tám năm nay. Hắn là một thằng có cá tính. Mà lại là cá tính quái dị. Tôi cũng vốn là một người quái đản – theo mọi người chung quanh bảo thế – nên khi gặp hắn là thành thân ngay, đi đâu cũng có nhau. Ngưu tìm ngưu, mã tìm mã mà.
Hắn có khuôn mặt của John Lennon: ngây thơ mà tinh quái. Cũng nét mặt gầy, mũi thẳng, tóc xoăn để dài đến bờ vai, chỉ khác là tóc màu đen. Hắn cũng đeo kính cận gọng tròn, nặng độ, dày như đít chai. Lúc nào hắn cũng kè kè cái ba lô nặng trĩu chứa tùm lum nào sách, nào khăn, nào đủ thứ như một túi rác. Nhưng hắn bảo hắn chứa cả càn khôn trong đó.
Hắn chỉ có độc một bộ đồ, chiếc áo jean bạc màu, áo jacket màu cứt ngựa có nhiều túi và cũng nhiều fermature. Chiếc quần jean rách ở đầu gối và sờn ở hai mông đít. Đôi giày lính Mỹ cao cổ loang lổ và ám bụi đường. Hắn không bao giờ giặt áo quần, cứ mặc cho đến tả tơi lại đi tìm bộ khác cũng y như thế. Công nhận hắn cũng giỏi săn lùng vì suốt tám năm quen hắn, tôi có cảm tưởng hình như hắn chẳng bao giờ thay kiểu quần áo.
Hắn là một thằng thông minh, rất thông minh. Và cũng uyên bác, rất uyên bác. Tôi là người rất ngạo mạn, ít khen ai và cũng ít nể ai, luôn khinh khi những thằng tiến sĩ dỏm nhiều như quân Nguyên chạy đầy đường. Nhưng gặp hắn, quen hắn, biết hắn thì tôi phải khen ngợi hắn thật lòng. Hắn nói tiếng Anh như dân xuất thân từ Oxford , đúng giọng và ngữ điệu. Hắn vi vu tiếng Pháp giọng Paris và hơn thế nữa là dùng ngôn ngữ từ Sorbonne ra. Hắn nói tiếng Ý như mưa rào và tiếng Nga thì thôi rồi, nghe không khác gì Putin. Hắn cũng giỏi tiếng Hán, viết thư pháp như múa, đặc biệt là chữ thảo, đọc toàn sách cổ văn, đọc tiếng Đức ầm ầm như bão tố. Ngoài ra hắn còn giỏi tiếng Bồ Đào Nha, đọc kinh Phật bằng tiếng Pali và nói thông thuộc tiếng Khmer. Hay nhất là dù hắn có mười mấy năm ở nước ngoài, có bằng Tiến sĩ ở Nga nhưng lại nói tiếng Việt rất chuẩn, tròn vành rõ chữ và dùng từ thì không chê vào đâu được. Nói tóm lại, xét về mặt ngôn ngữ, hắn là thằng trùm thiên hạ.
Không biết chính xác hắn ở đâu. Lúc thì bảo ở quận tư, có khi lại ở quận tám. Tóm lại hắn là thằng giang hồ. Một thằng trí thức nhất trong những thằng trí thức đúng nghĩa của Việt Nam đang là kẻ không nhà. Hắn là thằng ma – cà – bông. Cứ khoảng chín giờ sáng là có mặt hắn ở quán cà phê, kêu li đen và ngồi rít thuốc liên tục. Bất cứ vấn đề gì hắn cũng có thể nói được, và nói rất sâu. Gặp những từ ngữ cần chính danh, hắn có thể lấy giải nghĩa từ nguyên chữ Hán và có khi từ chữ gốc của tiếng La tinh. Hắn có thể nói từ chuyện văn chương kim cổ cho đến những phát minh từ xưa đến nay của loài người. Hắn giảng về Socrate, Platon cho đến các triết gia cận đại. Hắn nói về Mác thì ai cũng ngóng cổ lên mà nghe bởi vì toàn những vần đề mà những ngài tuyên huấn cộng sản không bao giờ biết đến và phân tích nổi. Khi hắn phân tích cách mạng Trung Hoa, cách mạng Việt Nam, rồi tương lai của toàn thế giới thì mọi người há mỏ nghe không ngậm lại được, mặt ai cũng nghệch ra như ngỗng ỉa. Trong mọi cuộc bàn luận, hắn trở thành trung tâm. Khi chưa có mặt hắn ở khu vực này, tôi được mọi người phong cho là bách khoa toàn thư, chuyện gì cũng biết. Nhưng từ khi có hắn, tôi như đèn dầu le lói mà hắn thì sáng như đèn pha. Ngay như chuyện chó mèo, chim cò, rắn rít, thú hoang hắn cũng rành như ông giáo sư Võ Qúy. Chuyện gì hắn cũng biết, mà biết rõ ngọn ngành rành mạch mới siêu chứ. Khi hắn đã nói thì chẳng còn ai có thể cãi lại hắn được. Với cái đầu của hắn, nếu được làm lãnh đạo hắn có thể l à người lãnh đạo giỏi hay ít nhất đất nước sẽ nở mày nở mặt khi hắn tiếp xúc với năm châu bốn bể. Nhưng hắn lại là thằng lang thang, sống bằng những bài dịch tin nước ngoài cho mấy tờ báo lá cải. Trong khi mấy thằng ngu thì chức cao quyền trọng, ghế cao chót vót. Đời là vậy đấy! C’est la vie!!
Theo những tin tức vỉa hè thì hồi mới về nước thì hắn cũng đi làm ở bộ ngoại giao. Là nhân viên của một cục, một vụ gì đấy. Nhưng vì hắn quá giỏi lại quá ngông, không chịu nghe theo những chỉ thị ngu xuẩn của lãnh đạo nên cuối cùng bị đẩy xuống làm anh chạy văn thư. Vì cảm thấy nhục, hắn cũng kiện tụng tùm lum mà chẳng đi đến đâu nên bỏ sở mà làm kẻ lang thang. Tôi nghĩ tánh khí ngang tàng không khuất phục chính là nguyên nhân bi kịch chối từ gia đình của hắn.
Cách đây mấy năm, tôi có người bạn Pháp, một chuyên gia sưu tầm cổ vật Đông phương sang Việt Nam mua được một chậu sứ Trung Hoa rất cổ, hình như là đời đầu Minh. Chậu sứ vẽ cảnh mục đồng chăn trâu men xanh rất đẹp. Nét vẽ uyển chuyển và tinh tế của một nghệ nhân bậc thầy. Ông bạn tôi mấy lần mang về Pháp đều bị chận lại vì hải quan không cho mang cổ vật ra khỏi nước. Chuyện đến tai hắn, hắn bảo sẽ mang đi được với điều kiện bạn tôi mua vé khứ hồi cho hắn kèm theo 1500 Euro cho hắn tiêu mấy ngày ở bên đó. Bạn tôi ok ngay. Và hắn mang đi được thật mà chẳng cần xin xỏ, khai báo gì cả. Dịp đó hắn đi hết mấy nước châu Âu; gần hai tháng sau hắn mới về. Hỏi hắn làm sao, hắn bảo có khó đéo gì đâu, vào đến phi trường tớ đến ngay quầy bán hoa lan của Đà Lạt, mua một giỏ hoa lan có cả chậu, vào ngay phòng vệ sinh, bỏ chậu ra, lấy chậu sứ thay vào. Thế là ung dung xách giò lan bước lên máy bay chẳng thằng nào, con nào hỏi một tiếng. Ai cũng bảo hắn giỏi. Hỏi hắn ở bên đó hai tháng lấy gì mà ăn, hắn bảo hắn làm hướng dẫn viên du lịch. Đến thành phố nào cứ thấy mấy thằng du khách ngơ ngác thì hắn sấn tới làm quen sau đó hướng dẫn người ta đi tham quan. Hỏi hắn chưa bao giờ đi qua đó, biết đếch gì mà hướng dẫn. Hắn gào lên xin lỗi mọi người à, trước khi đi tôi đã học thuộc mấy cuốn sách hướng dẫn du lịch của hơn mười nước Châu Âu rồi. Nghe sợ chưa?
Có lần tôi với hắn đi nghe một tay giáo sư người Mỹ nói chuyện văn chương, trong giờ giải lao, hắn bước đến nói chuyện với tay giáo sư đó. Chẳng biết nó nói những gì mà khi trở lại sân khấu để tiếp tục câu chuyện, tay giáo sư người Mỹ mời hắn lên ngồi chung và giới thiệu hắn với cử tọa bằng những lời rất trân trọng. Lần đó hắn bị công an văn hóa mời lên mấy lần để nói rõ mối quan hệ giữa hắn và tay người Mỹ. Hắn chỉ bảo là hắn không đồng tình một số ý của diển giả và người giáo sư nể hắn. Thế thôi. Bắt nó làm tường trình, nó bảo chẳng có đéo gì mà phải tường với trình, không tin thì cứ đi hỏi tay giáo sư người Mỹ chứ tại sao lại hỏi hắn. Cuối cùng huề, chẳng có chuyện gì mà ầm ĩ.
Hắn chưa bao giờ kể cho tôi nghe về mối quan hệ của hắn với phụ nữ. Thế mà có một lần, có một người đàn bà đẹp đến tìm hắn ở quán cà phê. Tôi ngỡ ngàng khi gặp người phụ nữ này, bởi vì cô ấy quá đẹp. Một sắc đẹp đài các, duyên dáng và rất trí thức. Một khuôn mặt mà thi ca và hội họa suốt đời ca tụng. Bữa đó không có mặt hắn ở quán và tôi tiếp chuyện với người đàn bà đẹp đó. Nàng tên là Bạch Huệ – hoa huệ trắng- cái tên nghe có vẻ hơi cải lương, nhưng cô gái đó nói chuyện rất thông minh và rất có trình độ. Nàng đi tìm hắn đã lâu rồi, và rồi không biết ai đó đã hướng dẫn nàng đến đây. Cô gái kể sơ cho tôi nghe về mối quan hệ giữa hắn và nàng. Yêu nhau từ ngày còn ở bên Nga, nàng là con gái rượu của đại sứ Vệt Nam ở đó. Một mối tình đẹp và môn đăng hộ đối. Hai người về Việt Nam và dự định khi ổn định cuộc sống sẽ làm lễ cưới. Nhưng rồi hắn chửi lãnh đạo, mất việc, bị bố nàng nói nặng nhẹ đụng chạm tự ái sao đó, hắn chửi ông bố vợ tương lai một trận ra trò và bảo các ngài chỉ là một lũ ngu rồi bỏ đi không dấu vết. Nàng đau khổ đi tìm. Vô vọng. Mò kim đáy bể. Cuối cùng nghe theo lời bố lấy chồng. Chồng nàng bây giờ là thứ trưởng một bộ rất quan trọng. Tôi bảo thế thì bây giờ cô còn tìm hắn làm gì, khi đã trở thành hai tầng lớp khác nhau, vị trí xã hội cũng đã không còn như xưa nữa. Cô ấy bảo là tìm để xem hắn sống ra sao, tìm lại hình ảnh mối tình xưa đã không còn nữa và quan trọng nhất là cô ấy vẫn còn yêu hắn.
Khi tôi kể lại cho hắn nghe cuộc gặp gỡ, hắn không nói gì chỉ lẩm bẩm chửi thề, chửi thề là thói quen của hắn, nên tôi không biết hắn đang chửi cái gì. Chửi số phận hay chửi mối tình của hắn. Sau đó hắn lầm lì mấy ngày rồi vắng mặt gần mười mấy hôm, cũng chẳng biết hắn đi đâu…..
Hắn xuất hiện trở lại chốn giang hồ với một cọc tiền khá lớn, hắn bảo hắn vừa lãnh tiền công viết luận án tiến sĩ cho một đồng chí lãnh đạo thành phố. Hắn nói đây là đồng tiền tanh hôi, đồng tiền đã làm lụn bại đất nước, nhưng nếu hắn không nhận làm thì thằng khác cũng làm, xã hội bây giờ thiếu gì thằng trí thức sẵn sàng làm thuê. Hắn gom mấy đứa trẻ bán báo, đánh giày, bán vé số lại. Thuê một chiếc xe mười lăm chỗ ngồi, chở hết mấy đứa trẻ vào thành phố, mua sắm áo quần, đồ chơi, sách vở. Lại còn cho mỗi đứa mấy trăm ngàn. Cả đám trẻ sung sướng. Còn hắn thì hả hê. Chưa bao giờ thấy khuôn mặt của hắn sướng đến như vậy. Mấy bà bán dạo quanh quán cà phê bảo hắn điên, hắn cười sảng khoái, gật gù: điên, điên, đúng là điên.
Tối hôm đó hắn đi vào bar Mưa Rừng, vừa bước vào cửa, mấy gã bảo vệ nhìn bộ dạng của hắn, định ngăn không cho vào. Hắn rút ra mấy tờ bạc giúi vào tay chúng. Hai gã bảo vệ nghiêng mình, mở cửa. Hắn vào bàn, ngoắc một em phục vụ ăn mặc nóng bỏng lại, kêu cho ly sữa tươi. Em cave nhìn hắn định cười khi dễ thì hắn đã rút hai tờ năm trăm nhét vào tay cô gái và bảo, em mua giúp anh ly sữa tươi. Dĩ nhiên là cô gái thực hiện ngay. Ai dại gì từ chối bán ly sữa tươi giá một triệu bạc bao giờ. Hắn uống một hơi hết ly sữa. Lại ngoắc em gái lần nữa và rút thêm một xấp tiền, bảo: vú em nhỏ quá, anh cho em chục triệu đi bơm vú to lên mà làm cho đời thêm tươi. Cô gái há hốc mồm không kịp nói gì thì hắn đã lẳng lặng rời ghế, đi về. Chuyện này được kể lại với nhiều tình tiết ly kỳ hơn, kéo dài mấy tháng trong giới cave, sau này trở thành giai thoại, báo chí cũng có đăng. Mọi người kháo nhau hắn là tỷ phú đóng vai kẻ nghèo vì chán cảnh giàu sang nhung lụa. Bữa đó hắn đi bộ về, vừa đi vừa khóc, chẳng ai hiểu tại sao?
Hắn lại mất hút. Cả tháng rồi tôi không gặp hắn. Cho đến một hôm, lúc trưa, tôi nhận được điện thoại của công an hỏi tôi có phải là người thân của hắn không? Tôi ừ. Đồng chí công an bảo phát hiện hắn đã chết đêm hôm trước, trong tay có mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của tôi. Tôi chạy ngay đến đồn, họ chở tôi đến một căn nhà nhiều phòng ở một chung cư tại quận tư. Hắn nằm đó, khuôn mặt thanh thản và bình yên, trên môi phảng phất nụ cười. Chung quanh giường và tràn ngập căn phòng là những cành huệ trắng. Màu trắng của huệ, màu trắng của chiếc drap giường và bộ đồ trắng lần đầu tiên tôi thấy hắn mặc làm cho căn phòng tinh khiết lạ lùng và cũng tang tóc vô cùng. Trên đầu giường có một bức tranh sơn dầu nhỏ vẽ chân dung một cô gái cũng mặt chiếc váy trắng. Khuôn mặt trong hình rất quen. Đó là chân dung của Bạch Huệ. Thì ra hắn tự tử bằng hoa huệ. Hắn đã chất đầy căn phòng hoa huệ trắng, đóng kín cửa và hắn từ từ chết trong hương thơm ngào ngạt của loài hoa huệ trắng. Trong tờ giấy hắm nắm trong tay lúc ra đi, ngoài tên và số điện thoại của tôi, hắn còn ghi thêm hai dòng nữa. Dòng đầu hắn cho biết là hắn tự kết liễu đời mình, không liên lụy đến ai. Dòng sau hắn ghi là hắn không còn cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt nên nhờ tôi hỏa tang thân xác hắn và rải tro xuống sông để cho hắn được trôi ra biển lớn. Tôi đưa tay chào như chiến sĩ, như một lời chia tay.
Ba hôm sau, tôi nhận được mail của hắn. Nhìn thấy tên hắn là tên người gởi, tôi lạnh dọc sống lưng. Sao hắn chết ba hôm rồi, than xác hắn đã thành tro bụi rải xuống sông rồi. Sao lại còn có thư của hắn gởi.
Hắn viết:
Gởi anh.
Đã đến lúc tôi cảm thấy mình thừa thãi trong cuộc đời này. Tôi không còn lí do để tồn tại nữa. Phải biết đúng lúc để rút lui là người khôn ngoan. Tôi đã làm tròn phận sự và tôi phải ra đi. Biết đâu ở thế giới khác sẽ vui hơn trần gian điên dại này? Xem như không có V.Huy ở cuộc đời này, quá khứ cũng như tương lai.
Anh ở lại hãy sống vui.
V.Huy
Tái bút: Tôi nhờ anh đến địa chỉ…lấy một số vật dụng của tôi và đốt tất cả giúp tôi. Đốt hết và đừng giữ lại gì. Cám ơn anh.
Anh đừng sợ hãi khi nhận được thư này. Tôi gởi thư theo chế độ hẹn. Tôi hẹn ba ngày sau khi tôi ra đi, máy mới gởi thư đi”
Tôi đến địa chỉ hắn đã ghi, người ta giao cho tôi một thùng to, vất vả lắm tôi mới chở được về nhà. Những gì trong đó làm tôi kinh ngạc đến sững sờ.
18 cuốn nhật ký hắn ghi từ lúc bảy tuổi cho đến trước ngày hắn chết một tuần lễ với nhiều suy nghĩ gây sửng sốt.
72 bản dịch những cuốn tiểu thuyết của nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới.
4 bản dịch sang tiếng Đức cuốn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Thơ các thiền sư đời Lý và cuốn Đoạn trường vô thanh.
3 tập phê bình và nhận định những sai lầm của chủ nghĩa Mác viết bằng tiếng Anh.
2 cuốn nói về sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thế kỉ 21 viết bằng tiếng Pháp.
43 cuốn phân tích và phê bình về các tác giả Việt Nam từ thơ ca đến tiểu thuyết.
12 cuốn viết về các danh nhân văn hóa Trung Quốc và sự ảnh hưởng của họ.
5 cuốn dịch thơ Đường sang tiếng Việt.
3 cuốn chép tay kinh Phật bằng tiếng Pali.
1 cuốn dịch nhạc Trịnh Công Sơn sang tiếng Tây Ban Nha.
8 tập thơ hắn viết từ hồi 15 tuổi cho đến năm ngoái, tức là cả năm nay hắn không còn làm thơ.
1 cuốn luận án tiến sĩ của hắn với tiêu đề: “Tìm hiểu chính sách ngoai giao của nhà nước Việt Nam từ đời Lý đến 1945”..với nhiều lời phê khen ngợi.
Và nhiều bằng cấp giấy khen của nhiều trường học, tổ chức trong và ngoài nước. Nhiều bài báo của hắn viết trên nhiều tạp chí chuyên ngành của nhiều tổ chức khoa học tiếng tăm trên thế giới.
Một gia tài đồ sộ chứng tỏ sự uyên thâm cùng sức làm việc khủng khiếp của hắn.
Tôi mất gần cả năm nay mà vẫn chưa đọc hết những gì hắn đã viết, và tôi sẽ tiếp tục đọc để hiểu hắn hơn, để càng thêm cảm phục hắn. Một thiên tài đã sinh nhầm nơi chốn. Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ.
Tôi không đốt như ý nguyện của hắn. Tôi đóng một tủ sách khá đẹp, đem tất cả tác phẩm hắn đã viết sắp xếp thứ tự. Ngoài mặt tủ, tôi đi thuê khắc dòng chữ: “CÓ MỘT NGƯỜI TÊN V.HUY “
Saigon 12g45 AM ngày 11.8.2010
DODUYNGOC

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Thương mại thì lắm tiền



"Phi thương bất phú" = "không buôn bán thì không giàu (lắm tiền)" 
Vụ buôn bán nổi tiếng nhất mà người ta hay nói đến là: Vụ thương nhân Lã Bất Vi buôn vua Doanh Chính (Tần Thủy Hoàng). 

Quan điểm "phi thương bất phú" chỉ đúng với xã hội cũ. Xã hội sản suất thuần nông. 

Ngày nay với khoa học kỹ thuật phát triển, công nghiệp phát triển, quan điểm "phi thương bất phú" không còn đúng nữa. Chẳng có tập đoàn tài chính nào chỉ làm buôn bán đơn thuần mà lắm tiền được cả. 
Do đó câu "phi thương bất phú" bây giờ được nói là "phi công bất phú, phi thương bất hoạt" = "không phát triển công nghiệp thì nghèo, không buôn bán thì thiếu linh hoạt"

http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100124






Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010

KTS Trần Huy Ánh - Bê tông hóa vỉa hè Hà Nội làm giảm khả năng tiêu thoát nước (Thứ hai 19 Tháng 7 năm 2010)

KTS Trần Huy Ánh - Bê tông hóa vỉa hè Hà Nội làm giảm khả năng tiêu thoát nước

Các nhà quản lý đang tuyên bố làm hết sức nhưng là làm theo cái kịch bản cũ kỹ, lại có thêm nhiều việc vô lý: Việc bê tông hoá tràn lan vỉa hè mặt đường, lát đá hay lu lèn chặt thành và đáy hồ điều hoà làm triệt tiêu thẩm thấu, giảm diện tích mặt thấm nước.

Rất nhiều thành phố lớn trên thế giới đối mặt với ngập úng. Các thành phố vốn hình thành ở ven sông, biển phải đối mặt với nạn ngập úng. Hầu hết có chung nguyên nhân là đô thị hoá mạnh, tăng diện tích xây dựng nhà cửa và đường sá, đồng thời giảm diện tích ngập nước và thu hẹp dòng chảy của hệ thống kênh rạch tiêu thoát.

London (Anh quốc) với sông Thames bị thu hẹp lại gặp bão lớn từ biển Bắc, triều cường đã làm cho phần lớn thành phố ngập trong nước năm 1952. Tokyo (Nhật bản), bão lớn đổ vào, mưa to kéo dài làm ngập các đường ngầm trong thành phố vào năm 1971. Nhiều thành phố khác cũng phải đối mặt với nạn úng ngập, nhưng mỗi nơi đều có giải pháp phù hợp để khắc phục.

Bản đồ thoát nước Hà Nội (Ảnh: Hanoidata st&bs)

Hà Nội úng ngập đã là chuyện thường gặp mỗi khi mưa lớn, nhưng chưa có giải pháp thích ứng lại còn làm vấn đề trầm trọng thêm. Dự án thoát nước HN đã do JICA đề xuất cách đây hơn 20 năm, khi đô thị hoá tốc độ thấp hơn hiện nay rất nhiều. Các nhà quản lý đang tuyên bố làm hết sức nhưng là làm theo cái kịch bản cũ kỹ, bản thân nó đã có nhiều hạn chế, lại có thêm nhiều việc vô lý: Việc bê tông hoá tràn lan vỉa hè mặt đường, lát đá hay lu lèn chặt thành và đáy hồ điều hoà làm triệt tiêu thẩm thấu, giảm diện tích mặt thấm nước.

Cống hoá các kênh mương làm giảm thiết diện thoát nước làm tăng phản áp trong lòng cống kín dẫn đến giảm tốc độ tiêu thoát, loại bỏ khả năng nước tràn bờ tự nhiên khi mưa lớn. Tổng lượng trữ nước các sông hồ kênh mương nội thành HN là 23 triệu m3. Trạm bơm Yên Sở cũ chạy hết tốc lực mất 4 ngày, nay có hoàn thành tăng công suất gấp đôi cũng mất 2 ngày. Vậy Hà Nội vẫn úng ngập cho dù chình quyền làm hết sức, tiêu hết mức.

Nguyên lý chống ngập: nuớc chảy chỗ trũng. Dự án JICA nghiên cứu vào những năm 90, chia nội thành HN cũ thành 6 lưu vực thoát nước, tất cả đổ dồn vào Tô Lịch và sông Nhuệ, chảy xuôi từ bắc xuống nam, đón cuối dòng là trạm bơm (duy nhất) Yên Sở đẩy ra sông Hồng.

Thực tế 20 năm qua đô thị hoá Hà Nội tăng đột biến: diện tích đô thị hoá tăng, trong khi diện tích ngập nước giảm, nhiều công trình cản trở tiêu thoát – các dự tính đã thay đổi. Do vậy cần thay đổi, thay vì dồn hết về phía nam (vùng1), nay cần thêm 2 vùng thu nước nữa là phía bắc (2) và từ trung tâm (3), bổ sung thêm 2 trạm bơm.

Phía bắc khu đô thị Nam Thăng Long đã quy hoạch trạm bơm rộng 4,7 ha. Nay cần nâng công suất tương đương với Yên Sở, đảm trách thoát nước toàn bộ quận Tây Hồ, Ba Đình, một phần Từ Liêm. Khu trung tâm thoát nước theo hướng từ tây sang đông. Thu nước tốt nhất là sông ngầm kết hợp với đường ngầm tuyến metro số 3 (Trôi - Nhổn Yên Sở ).

Đường tuynel thoát nước dự án SMART (Kulalumpur - Malaysia) dài gần 10km , đường kính 11,83 m. Đầu tư gần 0,6 tỷ USD, giải quyết 3 vấn đề: thoát nước chống ngập, đường ôtô 2 chiều và đường dây đường ống ngầm.

Hạ ngầm dự kiến đi từ Kim Mã qua ga Hà Nội chạy dọc phố Trần Hưng Đạo ra sát sông Hồng (bệnh viện 108). Tuyến này dự kiến tunel đường kính > 6 m nay nâng lên hơn 10m để đáp ứng 3 nhiệm vụ: tuyến metro, thoát nước và tuyến ngầm đường dây đường ống kỹ thuật.

Worley Parsons (Úc) - tư vấn phản biện Quy hoạch chung Hà Nội, và Ile-de-France/IMV, nhà phản biện quốc tế khác cũng nhấn mạnh, nhà ga là những điểm liên kết các không gian dịch vụ công cộng do vậy ảnh hưởng đến cả không gian đô thị năng động quanh nó. Kết hợp phân vùng thoát nước mới cho Hà Nội với khai thác đa năng tuynel ngầm vừa tăng khả năng thoát nước trung tâm thành phố, vừa đảm bảo an toàn chống ngập cho metro. Kết hợp khai thác thương mại tại các nhà ga ngầm với bổ sung trạm bơm tiêu thoát sẽ rút ngắn thời gian thoát nước lại chia sẻ, giảm giá thành đầu tư hạ tầng đô thị.

KTS Trần Huy Ánh











Thứ Tư, 7 tháng 7, 2010

Lạc Long Quân có 100 người con trai

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sử thần Ngô Sĩ Liên chép:
Lạc Long Quân
Tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương.
Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng), là tổ của Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khí hóa ra, đó là Bàn Cổ thị. Có khí hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai khí âm dương cả.
Kinh Dịch nói: "Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh"1.
Cho nên có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi.
Nhưng thánh hiền sinh ra, tất có khác thường, đó là do mệnh trời. Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra nhà Thương, giẫm vết chân người khổng lồ mà dấy nhà Chu, đều là ghi sự thực như thế. Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai.
Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông Giám Ngoại kỷ nói: Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà như thế chăng?
***

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chỉ nói là sinh 100 con trai. 
Xem Phong Thần Diễn Nghĩa, Bá Ấp Khảo là người con cả của Cơ Xương, Lôi Chấn Tử là con trai thứ 100 của Cơ Xương. Cơ Xương cũng có 100 con trai.
Vua Minh Mạng (húy Nguyễn Phúc Đảm) 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa.

Từ đó cho thấy chuyện Lạc Long Quân có 100 người con trai là rất bình thường.
Tuy nhiên, có lẽ do truyền thuyết hơn 2000 năm trước muốn thống nhất rằng 100 người con đó đều cùng một mẹ sinh ra nên họ đã kể một câu chuyện thần thánh rằng mẹ Âu Cơ sinh ra "bọc trăm trứng".
Và tất nhiên đó là truyền thuyết.
Trong sử Việt tính từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến nay (2008) là bốn nghìn tám trăm tám mươi bảy năm (4887) - người ta vẫn nói 4000 năm lịch sử, thì đã có hai nghìn chín trăm mười tám năm (2918) là truyền thuyết. Chỉ có từ thời Trưng Nữ Vương năm Kỷ Hợi (39 Tây lịch) đến nay là có sách chép lại đàng hoàng.
Chúng ta không thể trách tổ tiên "vì sao không chép lại sử", bởi mỗi lần bọn bành trướng phương bắc Tàu khựa sang xâm lược chúng đều đốt sạch phá sạch tất cả mọi di tích lịch sử và văn hóa của người Việt.
Chúng muốn làm cho chúng ta thành kẻ mất gốc, để chúng dễ dàng đồng hóa chúng ta.
Toàn bộ các bộ tộc Bách Việt sống từ phía nam sông Dương Tử qua nhiều ngàn năm đến nay gần như đã bị đồng hóa, nhưng người Việt sống trên dải đất hình chữ S này thì vẫn kiên cường không bị đồng hóa. Điều đó phải cảm ơn rất nhiều những Trưng Nữ Vương, Lý Nam Đế, Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Hồ Quý Ly, Lê Thái Tổ, Mạc Thái Tông, Quang Trung, Gia Long...
Hôm trước có nghe Jennifer Phạm nói: "tiếng Việt còn, người Việt còn, tiếng Việt mất, người Việt mất. Cây không gốc, nước không nguồn, thì sống chẳng có nghĩa gì cả!"
Không biết là cô ấy tự nói, hay do ai dạy, mà thực ra con người ta ai chẳng được dạy dỗ, có cái là có học vào hay không thôi.
Cho dù Jennifer học của ai thì câu nói ấy thật đáng để rất nhiều người trong quốc nội phải học.

http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100125


 



 
.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2010

Cái hay trong tiếng việt

thumbs bom sex thai nha van00008 Bom sexy Thái Nhã Vân khoe thân với áo yếm bên hồ sen


Có lẽ chỉ cần tìm kiếm trên internet với từ khóa là tiêu đề của bài này thì sẽ thấy cả đống bài viết của rất nhiều nhà nghiên cứu tán tụng về cái hay của tiếng Việt.
Thực ra ngôn ngữ nào cũng có cái hay của nó, bởi vậy cũng chẳng nên "mẹ hát con khen hay". Tuy nhiên ví dụ nêu ra dưới đây cũng thú vị ra phết:

Hỡi cô mặc áo yếm hồng http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=1...
Đi trong đám hội có chồng hay chưa?

Ba cô đội gạo lên chùa http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=1...
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư 
Sư về sư ốm tương tư 
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu.


http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100126yemtham.jpg picture by laoxichlo
yemdao1.jpg picture by laoxichlo
Trong hai bài ca dao trên để mô tả cái yếm mầu đỏ, các nghệ sĩ dân gian có thể dùng hai từ đối thanh nhau:
- yếm hồng (thanh bằng)
- yếm thắm (thanh trắc)
Để áp dụng vào hai tình huống khác nhau nhằm làm cho bài ca dao luôn đúng với qui tắc vần - luật - thanh của thể thơ lục bát.
Đó là một điều rất thú vị!





















Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2010

Sống



Theo lý thuyết của đạo gia thì "sống gửi, thác về", có nghĩa là sống chỉ là tạm thời mà thôi.

Theo triết lý đạo Phật "sống kiếp này để trả nợ kiếp trước", người ta luôn luôn phải trải qua luân hồi chuyển kiếp để trả cái nghiệp đã tạo ra từ kiếp trước.

Theo Khổng giáo thì sống phải phấn đấu, không ngừng phấn đấu để thăng tiến trong sự nghiệp đồng thời nam phải "tam cương, ngũ thường" nữ phải "tam tòng, tứ đức".

Theo đạo Lão thì rất u mặc. Lão Tử không coi trọng việc phấn đấu vào quan trường như Khổng Tử, cũng không quan tâm tới sự sống sau cái chết như đạo Phật. Chỉ cần sống sao cho vui vẻ, chết sẽ thảnh thơi. Khi sống chỉ cần tu dưỡng đạo đức mà thôi.

"Thép đã tôi thế đấy" thì lại cho rằng "phải sống sao cho đến lúc chết đi thấy mình đã không sống hoài sống phí".

Với đa số mọi người thì ai ai cũng ham sống sợ chết, mặc dù biết rằng sớm muộn gì rồi ai cũng sẽ chết.
Đa số mọi người đều tham lam, cái sự tham ban đầu chỉ là để thỏa mãn một nhu cầu nào đó của cuộc sống. Nhưng đối với những người đã có tất cả mọi thứ rồi mà vẫn tham thì cái tham lúc ấy lại là muốn hơn thua với kẻ khác.
Mà theo đạo Phật thì lòng tham càng lớn thì cái nghiệp càng lớn. Mà cái nghiệp càng lớn thì kiếp sau càng khổ.

Có rất nhiều tài liệu về tư tưởng, triết lý của những học gia nổi tiếng về cách sống và tu dưỡng.
Cuối cùng một lý thuyết cực kì đơn giản của một người không làm thầy của ai bao giờ.

TRỊNH CÔNG SƠN nói: "sống trên đời sống, cần có một tấm lòng, dù chỉ để gió cuốn đi"

Tôi giật mình chợt nghĩ mình cứ đi tìm đâu xa cái lý thuyết sống. Thực ra nó thật bình dị trong mấy lời của TRỊNH.


TÂM http://www.thivien.net/forum_viewtopic.p...


http://hoaphonglan.vnweblogs.com/post/9171/100127