Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2008

Người tốt... - Hồi thứ hai: Cỏ vàng chân mộ chí




Mặt trời đã bắt đầu rót từng cốc lửa ngùn ngụt qua khung cửa kính của chiếc ô tô 45 chỗ ngồi. Lúc khởi hành từ bến Vinh mới có khoảng 2/3 khách, vậy mà bây giờ đã kín, có một số khách đã phải ngồi ghế phụ. Công tử kéo rèm che nắng.
- Này anh ngốc!
- Uầy... cô hai, tui tên là Công Tử Bột!
- Anh có tin vào số phận không?
- Chuyện gì nữa đây?
- Em có quen một chị, chị ấy là A Tử, có chồng rất đàn ông tên Tiêu Phong, hai người yêu nhau lắm, vậy mà người ta nói số phận hai người không được ở bên nhau.
- Tuổi gì vậy?
- Cả hai anh chị đều sinh năm 1982.
- Sách nói rằng: 1982 tuổi Nhâm Tuất, mệnh Đại Hải Thủy. Theo Tiên Thiên Bát Quái của Phục Hy, nam nữ đều cung Tốn, duyên phận: Tốn thú Tốn vi Phục Vị là tốt. Nhưng Hậu Thiên Bát Quái của Văn Vương lại có phân biệt, nam cung Ly, nữ cung Càn, kết hôn xem tuổi đàn bà: Càn thú Ly vi Tuyệt Mệnh, có nghĩa là yêu thương nồng thắm, đứt gánh giữa đường, tử biệt sinh ly. Tình yêu càng sâu đậm càng sớm phải chia tay.
- Anh chị ấy tốt lắm, mà sao người tốt lại không được ở bên nhau. Anh chị ấy gặp nhau cũng rất kì cục.
Ngày ấy, đàn em của anh ấy đến quán của chị ấy chơi, cậu ta không những quịt tiền lại còn chửi nhân viên của chị ấy rất chi là khinh miệt. A Tử một tay tóm cổ cậu kia nhấc lên ném văng dúi đầu vào gốc cây ngoài vệ đường rồi đuổi thẳng cổ, còn đe thêm cấm lần sau mò đến, nếu gặp một lần đánh một lần, chém xẻ đôi thành 2 mảnh.
- Xã hội đen à?
- Không được sao?
Sau đó Tiêu Phong thấy đàn em bị đánh, liền đưa cả bọn đến, chúng hùng hùng hổ hổ như muốn san bằng cái quán lá của A Tử. Nhưng sau khi hiểu chuyện, Tiêu Phong bắt đàn em của mình quì xuống xin lỗi chị chủ quán xinh đẹp liễu yếu đào tơ mà không khuất phục đám đại ca anh chị.
- Bà ấy là Thiết Phiến Tiên chứ liễu yếu đào tơ gì!
- Nói gì thì nói, đàn bà vẫn là đàn bà chứ, có chút ít quyền cước cũng làm sao so được với nanh hùm miệng sói, chứng tỏ A Tử rất kiên cường.
Sau ngày hôm ấy trở về, Tiêu Phong Không biêt được cái gặp nhau ấy là gặp nhau định mệnh. Ông Tơ bà Nguyệt đã buộc sợi dây hồng khiến "trai anh hùng không qua nổi ải gái thuyền quyên".
- Này cô hai tui không thích coi phim Nam Hàn qua cái lưỡi của cô đâu nhé!
- Anh sao vậy, hồi nãy thì cạy không nổi răng, mà bi chừ cứ nhảy dzô cổ họng người ta ngồi là sao?
Từ đó Tiêu Phong thường xuyên đến chỗ của A Tử, hai người thân thiết nhau lắm, tuy biết rằng tương lai cái nghề của họ chẳng đi đến đâu. Nhưng Bác có nói "người ta có quyền mưu cầu hạnh phúc". (thì thầm: mèng đéc ơi! lôi cả ông Côn dzô đây nữa!).
Thế rồi họ quyết định tổ chức đám cưới. Đại ca của Tiêu Phong là Hắc Hổ nói: "anh em mình làm cái nghề này mà đèo bòng thì chỉ thêm khổ người ta, nhưng thôi cô chú đã quyết, anh không cản, hôm ấy anh sẽ diện com-lê tới dự".
Ngày hợp hôn, cái quán lá rộn ràng, nhộn nhịp, chị em chạy ra chạy dzô tíu tít, A Tử xúng xính trong chiếc váy trắng tinh khiết thuê ở tiệm áo cưới Tràng Tiền. Bên nhà trai ai nấy đều hớn hở, mấy anh chàng thường ngày quần jean áo thun, đeo kính đen, hôm ấy cũng phải lột xác thành đám trai lơ hào hoa trong những bộ com-lê đen cài thêm bông hồng trên ngực. Con xe cam-ry 2.4 mượn của Hắc Hổ thuê người ta kết hoa biến thành xe rước dâu. Tiêu Phong hớn hở, cười như vớ được bước lên xe...
- Anh Phong - thằng Heo Mập từ đâu chạy về, mồ hôi vã ra như tắm, nói lắp bắp trong hơi thở gấp - Đại ca Hắc Hổ bị mấy chục thằng trong băng Ngón Chân Út Dính Bùn quây ở bến xe Tam Bạc.
- Đ... mẹ nó, Cá Sấu Đồng mày cứ đánh xe sang bên chị A Tử trước, nói là anh sẽ sang ngay, bọn còn lại theo tao.
Cả đám com-lê ca-vát hùng hục chạy về phía con đường ra bến xe Tam Bạc. Cuộc hỗn chiến nổ ra. Đang tả xung hữu đột trong đám giang hồ, nghe tiếng gió rít lên từ phía sau, Tiêu Phong xoay người 180 độ, đổ trụ sang chân phải né được đòn đánh của chiếc ống tuýp. Đồng thời lẹ tay bắt được ngang chừng chiếc ống, bẻ quặt lại, thằng bé bị đoạt vũ khí, hẫng đà lao đến vô tình bị đầu ống đâm thẳng vào bụng.
Tiêu Phong đỡ lưng thằng bé nằm xuống đất: "Này... này... đừng chết! làm ơn đừng chết!!!!!"
Cảnh sát 113 ập đến, giải tán đám đông, còng tay cả đám đưa lên xe: "từ trước đến giờ mình chưa thấy có tụi nào đánh lộn mà diện thế!"
A Tử lao về phía chiếc xe hòm có Tiêu Phong ngồi sau song sắt, mắt nhòa đi, chân khụy xuống, chiếc váy trắng nổi bật giữa đám loang lổ rằn ri...
"A Tử! hãy đợi anh về!..." - Giọng Tiêu Phong lịm đi để kìm lên tiếng nấc. A Tử chới với đôi tay...
Tội ngộ sát, cộng thêm 1 trang A4 tiền án tiền sự, tòa phán quyết 10 năm tù giam.
Cũng may có cái giấy đăng ký kết hôn, A Tử thường xuyên vào khám thăm nuôi Tiêu Phong. Một vài lần có em đi cùng A Tử, đúng là "gần nhau trong gang tất mà biển trời cách mặt". Tù nhân và thân nhân bị ngăn cách bởi một bức tường lưới mắt cáo. Cách 1,5 mét có một cửa ô vuông nho nhỏ. Qua cái cửa ô nho nhỏ đó họ trao nhau nụ hôn nồng ấm, họ lấy giấy chấm những hạt trai châu từ mắt của nhau. Cửa bên cạnh có một cụ bà đang vươn tay vào vuốt mái tóc bờm xờm của cậu con trai. Lại ở một cửa khác một đứa bé 3 tuổi được mẹ nâng qua ô cửa, chui hẳn vào bên trong cười khúc khích gọi "ba ba..." rồi rụi đầu vào má của cha nó.
Tai họa ập đến, A Tử phát hiện mình bị nhiễm AIDS, chị suy sụp hoàn toàn, cơm không muốn ăn, không còn thèm tắm rửa chi nữa, ngay cả việc thăm nuôi Tiêu Phong là điều hào hứng nhất với chị cũng không kéo được chị ra khỏi giường. Tụi em vô cùng lo lắng. Em thay A Tử vào thăm nuôi Tiêu Phong. "Tiểu Yến Tử, chị của em đâu" - "Chị ấy bịnh, mấy hồi khoẻ lại chị sẽ dzô thăm anh" - "Có nặng không?". Em nín thinh không nói.
Trong cái rủi có cái may, một lần đang nằm trên giường, cái ti-vi trước mặt có một chương trình xã hội, một chị là bệnh nhân AIDS xung phong thanh niên tình nguyện để tham gia chương trình phổ biến phòng ngừa AIDS. Như hấp thụ được luồng sinh khí mới, A Tử vụt chạy ra khỏi giường. Chị đã tham gia vào thanh niên tình nguyện. Ngày trở lại thăm Tiêu Phong, anh vô cùng ngạc nhiên thấy chị gày ốm xanh xao trong bộ đồ màu xanh của thanh niên tình nguyện. Chị vui vẻ, họ trao nhau nụ hôn, nhưng không còn lấy khăn chấm nước mắt nữa: "Khi nào mãn hạn, em sẽ giới thiệu anh với đoàn thể"
Nhưng rồi, bệnh chị đến giai đoạn cuối. Trước lúc ra đi chị nói: "chị chỉ mong một lần được nấu cơm cho anh Phong, anh và chị sẽ quây quần bên chiếc bàn kia"...
Sau 5 năm ở tù, Chủ Tịch nước ân xá, Tiêu Phong trở về, chị không còn ở đó nữa.
Tiêu Phong phủ lên mộ của A Tử chiếc váy cưới mầu trắng tinh khiết.
Mùa đông, chân mộ, cỏ mầu vàng...

Tiểu Yến Tử sẽ kể tiếp chuyện gì, xem hồi sau sẽ rõ.


Comments:

Nguyệt Thu:
Chuyện sao lại xoay ra như vầy, đệ ơi! :(. Tỉ đọc hồi 2 này thấy buồn quá! Câu kết "Mùa đông, chân mộ, cỏ vàng..." làm tỉ liên tưởng tới hai nhân vật: Đạm Tiên trong Truyện Kiều và người vợ yêu của Hữu Loan! Dù có xuất thân khác nhau đến mấy, số phận của những người phụ nữ muốn được yêu thương và muốn dâng tặng tình yêu thương của mình cho những người đàn ông mình yêu cũng bi thảm biết mấy!:(

HPL:
Tỉ ơi! đúng là họ phải chia tay, âm dương cách biệt, nhưng họ không giống nàng Kiều, cũng không giống Đỗ Thị Lê Ninh, rõ ràng A Tử ra đi trong bình thản mà

Nguyệt Thu:
:)
Sao đệ không edit entry lại? Đệ post chỗ comment này sợ là mọi người lại chẳng tìm ra để đọc. Hồi đêm tỉ cũng ngạc nhiên, nhận được mess, vào chẳng thấy hồi 2, tìm xuống dây mới thấy! :)
Cảm ơn đệ, đêm qua, tỉ ngủ rất yên! :)

HPL:
hì... tỉ à! các hồi sau cũng sẽ post lên giống như hồi 2

Cammy:
Đã định không comment vô đây rồi, nhưng hồi hai của lão khiến em "Bực mình" phải comment! :( Câu chuyện tự nhiên trở thành ngang trái! Em không thích những kết thúc như thế này! Chưa kết thúc, nhưng buồn thế này em ko đọc nữa đâu! :( :((

HPL:
Họ đã biến thành một đôi uyên ương hồ điệp bay đùa trên những cánh hoa ban mai ngậm sương lành em ạ!

Viễn Khách:
Eo ôi Lão! Đệ đọc mà nhớ đến những thiên truyện của SV Quốc Học Huế những năm 90 (những câu chuyện viết theo mô típ kiếm hiệp)
Mà sao phần 1 đang vậy mà phần 2 lại vậy. Câu chuyện buồn vậy sao.
Chờ đón phần 3 của Lão

HPL:
UI cha, mới đi honey về mà đã bỏ công ra đọc ký sự của lão rồi à? Lão sẽ cố gắng xuất bản hồi 3 trong thời gian sớm nhất!

Hoa Xuyên Tuyết:
Sao lão ko viết thành entry mà lại viết trong này thế hử?
Lẫn lộn cả rùi!
Chuyện của A Tử, mình lại nhớ chuyện của cô gì ở Hải Phòng, anh hùng châu Á ấy nhỉ? Hừm, tuần hoàn não lại chậm rồi :(

Vụ anh hùng châu Á là chị Phạm Thị Huệ, ở HP. Anh Hùng châu Á năm 2004 thì phải, có lên ti vi mà. Cô ấy là người dám công khai mình bị bệnh và tham gia tổ chức các hoạt động nâng đỡ tinh thần cho những bệnh nhân Aids.Hình như do chồng cô ấy hút chích nên bị nhiễm HIV.

Lão Lan kể chuyện lôi cuốn lắm. Không làm nhà văn thì hơi tiếc!

Phạm Vũ Lưu:
Hehe... Đọc cái này của lão huynh thấy thú vị quá, Lươn tôi cũng vừa làm 1 chuyến xuyên Việt để xem có được gặp và nghe cô bé nào giống thế ko. Kết quả là, đi 1 đường làng học 1 sàng khôn, các cụ bẩu cấm là có sai. Hôm nào cũng phải bắt chước lão huynh viết lại cho bà con đọc mới được

HPL:
Vậy à? xuyên Việt à? thế thì gặp nhiều cái hay lắm, vậy bác kể đi cho anh em thưởng thức với!

Chuồn chuồn ớt:
truyện này buồn quá... nhưng mà truyện của huynh nhân văn thật đấy...
nhưng mà huynh ơi truyện hay mà... cổ kim kết hợp... được cái muội thik truyện buồn hơn chuyện vui... viết đc truyện buồn nó mới thật sâu sắc... truyện buồn thơ buồn lúc nào cũng quyến rũ người ta... thấm đượm tình buồn là bao khoăn suy nghĩ... đáng quý lắm những giá trị nhân văn như thế...

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2008

Trần Chung Ngọc: VÀI NÉT VỀ : PHẬT GIÁO & KHOA HỌC

VÀI NÉT VỀ : PHẬT GIÁO & KHOA HỌC
Trần Chung Ngọc
http://sachhiem.net/TCN/TCNkh/TCNkh16.php
ngày 14 tháng 9, 2008
Trước hết tôi cần phải nói rõ rằng: “Phật Giáo là một chủ đề vĩ đại, vô cùng vĩ đại với một rừng Kinh Sách, Giáo lý và Triết lý. Hiếm có người có thể tự nhận là mình đã thông suốt toàn bộ Giáo lý của Đức Phật. Thứ đến, Khoa Học cũng là một chủ đề rộng lớn, quá rộng lớn, và tôi tin rằng không một người nào dám nói là mình đã biết hết về Khoa Học. Cho nên, tôi chỉ xin cố gắng trình bày vài nét về đề tài “Phật Giáo & Khoa Học” theo sự hiểu biết của tôi, nhưng tôi tin chắc chắn cũng còn nhiều thiếu sót.
Nói về Phật Giáo & Khoa Học thì trước hết chúng ta cần biết rõ một sự kiện: Hiện nay, không ai có thể phủ nhận là Phật Giáo đang phát triển mạnh trên toàn thế giới, nhất là trong những xã hội Âu Mỹ, những xã hội được coi là tiến bộ nhất về khoa học, kỹ thuật. Điều này phản ánh một sự kiện: trong những xã hội này, con người đã quen với tính chất chính xác và hợp lý của khoa học, và họ ngả theo Phật Giáo vì tinh thần Phật Giáo rất phù hợp với tinh thần khoa học. Hơn nữa, trong lịch sử Phật Giáo, họ không tìm thấy một dấu vết tỳ ố nào về vấn đề chống khoa học hay đàn áp khoa học gia bằng bạo lực, chưa kể là Phật Giáo đã giúp họ giải quyết được một số vấn đề trong thời đại khoa học tân tiến ngày nay. Và hay hơn cả là, trong suốt giòng lịch sử truyền đạo hơn 2500 năm, Phật Giáo chưa hề làm đổ một giọt máu của người vô tội và cũng chưa hề cưỡng bức ai phải theo Phật Giáo. Chủ trương hòa bình của Phật Giáo là điều mà thế giới tranh chấp hỗn loạn ngày nay cần hơn gì hết.
Thật vậy, Joseph L. Daleiden, một học giả Công Giáo, trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), xuất bản năm 1994, sau khi phân tích và đánh giá cái di sản Do Thái - Ki Tô (A Critical and Evaluation of the Judeo-Christian Legacy), đã đề nghị những Tín Ngưỡng Khác Thay Cho Thần Giáo(Alternatives to Theism). Về Phật Giáo tác giả viết, trang 424:
Lời giới thiệu hay nhất về Phật Giáo là, giống như Khổng giáo, hệ thống tín ngưỡng này đã hiện hữu trong 25 thế kỷ mà không hề có một cuộc Thánh Chiến, một Tòa Án Xử Dị Giáo, hay một toan tính đế quốc nào nhằm xâm chiếm và phá hủy nền văn hóa của một dân tộc khác. ác.
(The best recommendation for Buddhism is that, like Confucianism, this belief system has existed for twenty-five centuries without a single Crusade, Inquisition, or imperialist attempt to invade and destroy the culture of another people.)
Chúng ta đã biết, Thánh Chiến, Tòa Án Xử và Thiêu Sống Dị Giáo, Săn Lùng Tra Tấn Và Thiêu Sống Phù Thủy, Toan tính Đế Quốc nhằm xâm chiếm và phá hủy nền văn hóa của một dân tộc khác v…v… đều là những núi tội ác của Công giáo mà Giáo hoàng John Paul II đã xưng thú cùng thế giới ngày 12 tháng 3, năm 2000.
Sự phát triển của Phật Giáo vào các xã hội tân tiến Âu Mỹ đã làm cho một số người vô minh trong những xã hội này lo sợ, lo sợ vì ánh sáng trí tuệ và đạo đức của Phật Giáo đã làm cho bóng tối của những mê tín phi lý, phi đạo đức phải lùi dần, và những người xây dựng quyền lực trên bóng tối của vô minh cảm thấy bị đe dọa vì quyền lực thế gian cũng như những đặc quyền vật chất của mình cứ mất dần. Cho nên, đã có bậc chủ chăn của một tôn giáo lớn ở Tây phương đã phải dùng đến hạ sách là viết sách xuyên tạc Phật Giáo để mong vớt vát phần nào niềm tin đã lung lay còn sót lại trong số tín đồ phần lớn ở trong các quốc gia nghèo khổ và kém mở mang. Ngoài ra, cũng có một số người trong Phật Giáo, đưa ra những tương đồng giữa Phật Giáo và Khoa Học với mục đích đề cao Phật Giáo trong thời đại tiến bộ của khoa học. Do đó, đã có một số người lên tiếng chê bai và cho rằng, làm như vậy là "Thấy sang bắt quàng làm họ, dùng những giả thiết trong khoa học để biện hộ cho niềm tin Phật Giáo."
Theo thiển ý, những người dùng khoa học để đề cao Phật Giáo cũng như những người phê phán là “Phật Giáo thấy sang bắt quàng làm họ v..v..” có lẽ chưa hiểu rõ, dù chỉ là đại cương, hoặc về Phật Giáo, hoặc về Khoa Học, hoặc về cả hai, cho nên mới bị cái hào quang của Khoa Học làm cho mờ mắt và đánh giá sai lầm thực chất của Khoa Học. Họ không thấy được những giới hạn của khoa học vì bản chất tương đối của khoa học và cũng không hiểu được cái niềm tin Phật Giáo là niềm tin về sự thực chứng, kết quả của sự tu tập, mang phúc lợi tới mọi chúng sinh, chứ không phải là một niềm tin mù quáng vào vài giáo thuyết hoang đường. Thật vậy, thực tế là một số Khoa học gia trong vài thập niên gần đây đã phải dùng những tư tưởng trong Phật Giáo để giải quyết những bế tắc trong việc diễn giải những hiện tượng khoa học mà họ khám phá ra, thí dụ như quan niệm "vạn pháp qui nhất", quan niệm "tương duyên, tương tức", quan niệm "dung thông" v..v.. của Phật Giáo. Và cũng thực tế là, trong nhiều bộ môn khoa học, tư tưởng Phật Giáo đã đi trước khoa học khá xa. Cho nên, phê bình là "Thấy sang bắt quàng làm họ" thì có thể đúng với tôn giáo khác, nhưng đối với Phật Giáo thì là một sự phê phán ngược chiều.
Vấn đề tinh thần Phật Giáo không xa lạ với tinh thần Khoa Học đã rõ ràng. Để vấn đề được rõ ràng hơn, chúng ta hãy duyệt qua nhận định của một vài khoa học gia nổi tiếng nhất trong Thế Kỷ 20:
Albert Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối, đã phát biểu như sau:
“Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt trên mọi ý nghĩa về Thượng đế và tránh nói đến những giáo lý và thần học. Tôn giáo ấy sẽ bao quát tất cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên cơ sở đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể mà không rời nhất thể. Phật giáo đáp ứng được những yêu cầu ấy. Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu được với những nhu cầu hiện đại của khoa học thì đó là Phật Giáo” (*)
[The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism.]
Ngoài ra, Einstein cũng còn đưa ra những nhận xét sau đây:
" PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN XÉT LẠI QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CẬP NHẬT HÓA VỚI NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI CỦA KHOA HỌC. PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN TỪ BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CHẤP NHẬN KHOA HỌC, BỞI VÌ PHẬT GIÁO BAO GỒM KHOA HỌC, ĐỒNG THỜI CŨNG VƯỢT QUA KHOA HỌC. Phật Giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật Giáo đã kích thích con người khám phá ra những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính con người và trong môi trường sống chung quanh. PHẬT GIÁO SIÊU VIỆT THỜI GIAN VÀ MÃI MÃI CÓ GIÁ TRỊ."
Trong nhận định của Albert Einstein, có một điểm quan trọng nói lên những sắc thái đặc thù của PG:
PG KHÔNG CẦN XÉT LẠI QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CẬP NHẬT HÓA VỚI NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI CỦA KHOA HỌC. PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN TỪ BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CHẤP NHẬN KHOA HỌC, BỞI VÌ PG BAO GỒM KHOA HỌC, ĐỒNG THỜI CŨNG VƯỢT QUA KHOA HỌC.
Tại sao Einstein lại nói như vậy? Chúng ta nên biết rằng Einstein đã được sinh ra và nuôi dưỡng trong cái nôi của tôn giáo Tây phương. Và một bộ óc như của Einstein thì không thể không biết đến cái lịch sử của tôn giáo Tây phương và các luận cứ mà các nhà Thần học bảo vệ tín lý của tôn giáo này đã phải đưa ra để giải thích lại hay từ bỏ những lời mà trước đây họ khẳng định đó là lời của Thượng Đế, không thể sai lầm, để đưa ra một lý thuyết phù hợp với những tiến bộ của khoa học, nhưng thật ra chỉ nhằm mê hoặc số tín đồ với những đầu óc "bảo sao tin vậy". Sau đây là vài thí dụ:
a) Quan niệm trái đất là trung tâm của vũ trụ, trái đất là thế giới duy nhất, mặt trời quay xung quanh trái đất. Đây là những lời của Thượng Đế trong Thánh Kinh nên không thể sai lầm. Cũng vì vậy mà trong thế kỷ 17 Giordano Bruno bị thiêu sống chỉ vì đưa ra một nhận định khoa học rất chính xác là ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có nhiều thế giới khác nữa, và Galileo Galilei, tuy là bạn của Giáo Hoàng Urban VIII, cũng bị biệt giam cho đến chết vì dám khẳng định một sự kiện khoa học là trái đất quay xung quanh mặt trời chứ không phải là mặt trời quay xung quanh trái đất như lời Thượng Đế không thể sai lầm được như trong Thánh Kinh. Sau đó khi mà giáo hội không còn quyền lực để đốt người hay giam người nữa thì các nhà Thần học liền tuyên bố: “Kinh Thánh không có ý định dạy về thiên văn, chỉ dạy về sự sáng tạo của Thượng Đế.”
b) Theo Thánh kinh thì vũ trụ được tạo dựng ra trong 6 ngày, cách đây khoảng từ 6000 tới 10000 năm, tùy theo Thánh Kinh. Ngày nay, những khám phá của khoa học cho biết tuổi của trái đất là vào khoảng 4.5 năm, và tuổi của vũ trụ là vào khoảng 13.7 tỷ năm. Các nhà Thần học bảo vệ tín lý bèn diễn giải rằng một ngày trong sự tạo dựng có thể là nhiều ngàn năm chứ không phải là ngày 24 tiếng đồng hồ như chúng ta thường biết. Đây chỉ là luận điệu ngụy biện để nuôi dưỡng các tín đồ trong vòng ngu dốt chứ đối với những người hiểu biết thì lời ngụy biện trên chỉ chứng tỏ sự xảo quyệt của các người chăn chiên. Vì Thánh Kinh viết rõ là mỗi ngày đều có sáng và tối. Và sáng và tối trên trái đất là do chuyển động quay xung quanh trục Nam Bắc của trái đất đối với mặt trời. Mặt khác, dựa trên chương Sáng Thế Ký trong Thánh Kinh, các khoa học gia bèn hỏi lại: Cây cối được tạo ra trong ngày thứ ba và mặt trời ngày thứ tư. Làm sao cây cối có thể sống được nhiều ngàn năm mà không có ánh sáng mặt trời? Các nhà Thần học bèn giải thích: Thượng đế là bậc toàn trí toàn năng, quyền phép vô cùng làm gì chẳng được. Các khoa học gia chơi khăm bèn hỏi lại: “Nếu Thượng Đế là bậc toàn năng thì tại sao lại phải nghỉ xả hơi vào ngày thứ Bảy sau khi hoàn thành sự tạo dựng trong 6 ngày? Và bắt con người cũng phải nghỉ ngày thứ bảy như Thượng đế? Nhưng con người ngày nay, một số người Việt chúng ta làm 2,3 “job” nghĩa là “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày chủ nhật”.” Câu hỏi này chưa có ai trả lời. Một mặt khác, trước khi tạo dựng ra vũ trụ ngày nay thì trong dòng thời gian vô tận trước lúc tạo dựng Thượng Đế làm gì và dùng cái gì, để tạo dựng ra vũ trụ? Các nhà Thần học bèn nổi sùng và bảo, trước khi tạo dựng cả thiên thu thì Thượng đế còn bận sáng tạo ra hỏa ngục cho những kẻ nào dám hỏi những câu hỏi xúc phạm đến quyền năng của Thượng đế như vậy. Tuy rằng hầu hết các khoa học gia và những người có đầu óc suy luận chỉ cón có cách cười trước những lời giải thích quanh co cuồng tín trên, nhưng đa số tín đồ vẫn tin và rất lấy làm an tâm và hài lòng về những lời giải thích mà họ bắt buộc phải tin là hợp lý.
Trong khi đó các khám phá mới của khoa học không có ảnh hưởng trái ngược hay mâu thuẫn đối với tư tưởng Phật Giáo, chưa kể là trong nhiều bộ môn các tư tưởng PG còn đi trước khoa học khá xa.
Học Giả Egerton C. Baptist (1915-1983), viết trong cuốn “Siêu Khoa Học của Đức Phật” (Supreme Science of the Buddha) như sau:
Phật Giáo bắt đầu ở chỗ khoa học chấm dứt. Khoa học không cho chúng ta sự bảo đảm gì ở nơi đây. Nhưng Phật Giáo có thể đáp ứng sự thách thức của thuyết nguyên tử, vì kiến thức ở trên mức bình thường của Phật Giáo bắt đầu ở nơi mà khoa học chấm dứt. Và điều này khá rõ ràng cho bất cứ ai đã nghiên cứu về Phật Giáo. Bởi vì, qua thiền định, những cấu tử cỡ nguyên tử tạo thành vật chất đã được thấy và cảm nhận, và những sự khổ, với sự sinh và diệt của chúng, đã tự tạo ra trong cái mà chúng ta gọi là linh hồn hay ngã - ảo tưởng của chấp ngã, như giáo lý của Đức Phật dạy.
[Buddhism begins where science ends
“Science can give no assurance herein. But Buddhism can meet the Atomic Challenge, because the supramundane knowledge of Buddhism begins where science leaves off. And this is clear enough to anyone who has made a study of Buddhism. For, through Buddhist Meditation, the atomic constituents making up matter have been seen and felt, and the sorrow, or unsatisfactoriness (or Dukkha), of their 'arising and passing away' has made itself with what we call a 'soul' or 'atma' - the illusion of Sakkayaditthi, as it is called in the Buddha's teaching.” ]

J Robert Oppenheimer ( 1904-1967), Vật Lý Gia Mỹ, nói rằng:
“Thí dụ, nếu chúng ta hỏi, phải chăng vị trí (electron) không thay đổi? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng vị trí của điện tử thay đổi với thời gian? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng điện tử đứng yên? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng điện tử đang di chuyển? chúng ta phải trả lời “không”. Đức Phật đã trả lời như vậy khi được hỏi về tình trạng của cái ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời này không quen thuộc trong truyền thống của khoa học trong thế kỷ 17 và 18.”
[If we ask, for instance, whether the position of the electron remains the same, we must say 'no'; if we ask whether the electron's position changes with time, we must say 'no'; if we ask whether the electron is at rest, we must say 'no'; if we ask whether it is in motion, we must say 'no'. The Buddha has given such answers when interrogated as to the conditions of a man's self after his death; but they are not familiar answers for the tradition of seventeenth and eighteenth century science.]
Sir Edwin Arnold, người nổi tiếng về cuốn thơ Ánh Sáng Á Châu (The Light of Asia), khẳng định rằng:
"Tôi thường nói, và tôi sẽ còn nói hoài, là giữa Phật-Giáo và Khoa- học tân tiến có một mối quan hệ trí thức gần gũi."
(I have often said, and I shall say again and again, that between Buđhism and modern Science there exists a close intellectual bond.)
Bertrand Russell, nhà triết-học và toán-học nổi tiếng hoàn cầu, trong cuốn Lịch sử triết học Tây Phương (History of Western Philosophy) đã viết:
"..Phật-Giáo là một tổ hợp của triết lý suy cứu và triết lý khoa học. Phật Giáo ủng hộ phương pháp khoa học và theo phương pháp này để tới một cứu cánh có thể gọi là thuần lý. Phật Giáo còn đi xa hơn khoa học vì khoa học bị giới hạn bởi những dụng cụ vật lý."
(..Buddhism is a combination of both speculative and scientific philosophy. It advocates the Scientific method and pursues that to a finality that may be called rationalistic...It takes up where science cannnot lead because of the limitations of the latter's physical instruments.)
Tiến sĩ Radhakrishnan:
"Nếu Phật Giáo hấp dẫn đối với trí óc tân tiến đó là vì Phật Giáo có tinh thần khoa học, thực nghiệm, chứ không phải là dựa trên bất cứ giáo điều nào"
(If Buddhism appealed to the modern mind it was because it was scientific, empirical and not based on any dogma.)
Tiến sĩ Graham Howe, nhà Phân Tâm Học nổi tiếng của Anh Quốc. đã nói như sau:
"Đọc một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng, từ 2500 năm trước, Phật Giáo đã biết về những vấn đề mới về tâm lý nhiều hơn là chúng ta thường biết tới. Họ nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng. Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông phương." (To read a little Buddhism is to realize that the Buddhists knew, 2,500 years ago, far more about modern problems of psychology than they have been given credit for. They studied these problems long ago and found the answers also. We are now rediscovering the ancient wisdom of the East.)
Và Paul Carus, tác giả cuốn sách nổi tiếng "The Gospel of Buddha" , một cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Nhật, Trung Hoa, Đức, Pháp, Tây Ba Nha v...v...và là người đã bảo trợ cho Daisetz Suzuki sang Mỹ để truyền bá đạo Phật mà ông gọi là "Tôn Giáo của Khoa Học" tuy ông không phải là một Phật tử. Paul Carus cho rằng: "Nếu các tôn giáo cổ Tây Phương được tinh khiết hóa bằng cách bỏ đi những sai lầm, nghĩa là những mê tín và điều vô lý trong đó, thì có thể hòa hợp được với Khoa học”. Paul Carus đã tán tụng Đức Phật như là: "Người đầu tiên thực chứng; người đầu tiên phát triển chủ nghĩa nhân đạo; người đầu tiên có tư tưởng tự do cấp tiến; người đầu tiên đả phá Thần tượng; và là nhà tiên tri đầu tiên về tôn giáo của khoa học."
Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao những nhân vật nổi danh trên, và nhiều nhân vật khác nữa mà tôi không thể kể hết ra đây, lại đưa ra những nhận định như vậy.
Nói về Phật Giáo [PG] và Khoa Học [KH] thì trước hết chúng ta cần biết những định nghĩa của PG và của KH. Ở đây, chúng ta bị kẹt vì KH thì có thể định nghĩa được chứ PG thì khó mà có thể có một định nghĩa xác đáng. Vậy thì, trước hết chúng ta hãy xét đến định nghĩa của KH và rồi xem xem trong cái định nghĩa này nó có những tương quan gì với Phật Giáo.
ĐỊNH NGHĨA CỦA KHOA HỌC.
Mở cuốn tự điển Merriam Webster ra chúng ta thấy có 5 định nghĩa về KH:
1. Kiến thức thâu thập được bằng khảo sát và thực hành (Knowledge obtained by study and practice)
2. Bộ kiến thức được hệ thống hóa (Department of systematized knowledge)
3. Nghệ thuật hay sự khéo léo (Art and Skill)
4. Một ngành học liên hệ đến sự quan sát và hệ thống hóa các sự kiện, nhất là liên hệ với sự thiết lập những định luật tổng quát có thể kiểm chứng được, chủ yếu bằng quy nạp và giả thiết (A branch of study concerned with observation and classification of facts, especially with the establishment of verifiable general laws, chiefly by induction and hypotheses)
5. Kiến thức chuyên biệt tích tụ được hệ thống hóa và công thức hóa dựa vào sự khám phá ra những chân lý tổng quát hay sự vận hành của các định luật tổng quát (Specifically, accumulated knowledge systematized and formulated with reference to the discovery of general truths or the operation of general laws)
Những kiến thức liên hệ tới thế giới vật chất : Khoa học thiên nhiên (Natural Science)
TINH THẦN KHOA HỌC:
- Dùng đầu óc, luận lý và thực nghiệm để ra khỏi sự ngu tối. (Phật Giáo dùng trí tuệ và thực chứng để phá bỏ vô minh: Người ta thường bảo rằng Phật giáo có một lưỡi gươm duy nhất để diệt một kẻ thù duy nhất: lưỡi gươm này là lưỡi gươm trí tuệ, và kẻ thù này là vô minh.)
- Tinh thần rộng rãi. Gửi học trò đi học các Thầy giỏi. (Khi xưa, các bậc cao Tăng trong Phật Giáo thường gửi đệ tử của mình đi học thêm từ các bậc cao Tăng khác ở Tông phái khác)
- Tinh thần khách quan, tôn trọng sự thật, không để cho thiên kiến chi phối. (Như thực tri kiến)
- Thảo luận hòa hoãn để đi tới chân lý, không khích bác nhau (Khẩu Hoà vô tranh)
- Dung hòa ý kiến, tham khảo để cùng đưa ra một kết luận (Ý hòa đồng duyệt)
- Chia sẻ những kiến thức để đi tới chân lý (Kiến hòa đồng giải)
Nhưng lẽ dĩ nhiên trong giới khoa học gia không có những chủ trương như sau của Phật Giáo:
- Thân Hòa Đồng Trú
- Giới Hòa Đồng Tu
- Lợi Hòa Đồng Quân
VÀI THÍ DỤ VỀ TƯ TƯỞNG PG ĐÃ ĐI TRƯỚC KHOA HỌC:
Ở trên tôi đã trích dẫn nhận định của Tiến sĩ Graham Howe, nhà Phân Tâm Học nổi tiếng của Anh Quốc. như sau:
"Đọc một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng, từ 2500 năm trước, Phật Giáo đã biết về những vấn đề về tâm lý nhiều hơn là về những vấn đề hiện đại về tâm lý học chúng ta thường biết tới. Họ nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng. Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông phương."
(To read a little Buddhism is to realize that the Buddhists knew, 2,500 years ago, far more about modern problems of psychology than they have been given credit for. They studied these problems long ago and found the answers also. We are now rediscovering the ancient wisdom of the East.)
Không phải vô căn cứ mà Tiến sĩ Graham Howe viết như vậy. Nếu chúng ta biết về Duy-Thức Học trong Phật Giáo thì chúng ta thấy rằng các khoa học gia chỉ dùng có 16 phần trăm [16%] của số 100 Pháp được phân loại thành 8 Tâm Pháp, 51 Tâm-Sở-Hữu Pháp, 11 Sắc Pháp, 24 Tâm-Bất-Tương-Ưng Hành Pháp, và 6 Vô-Vi Pháp (Xin đọc Đại-Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận), nghĩa là các khoa-học-gia chỉ xử dụng tới 11 Sắc Pháp trong đó có 5 căn là nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, và thân căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân thể); và 6 trần là sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, và Pháp trần (hình tướng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác do tiếp xúc, và bóng dáng của 5 trần trên còn lưu lại trong ý thức khi các căn không còn tiếp xúc trực tiếp với trần nữa), cộng với 5 tâm pháp trong số 21 tâm-bất-tương-ưng hành pháp là thời gian, phương hướng, vận tốc di chuyển, số lượng, và thứ tự (thời, phương, thế tốc, số, và thứ đệ). Ở đây tôi không có ý định đi sâu vào thiên luận 100 Pháp đại thừa mà chỉ muốn nói lên điểm cốt yếu như sau: khi mà khoa học không thể tiến hơn được nữa vì những giới hạn tự tại của 5 căn 6 trần và của những dụng cụ đo lường thì Phật Giáo vẫn tiếp tục đi xa hơn, bởi lẽ Phật Pháp, ngoài sự khảo sát những đối tượng vật chất còn chú trọng nhiều đến những vấn đề tâm linh, cho nên đã vượt qua, đi ra ngoài những giới hạn vật lý của khoa-học. Do đó chúng ta có thể nói Phật Giáo là một Siêu-Khoa-Học (Super-science) như học giả Ergeton Baptist đã nhận định, được thành lập trên căn bản trí tuệ Bát Nhã (trí tuệ nhận thức được thực tướng của vạn Pháp). Trong Phật Giáo, Duy-Thức Học cho chúng ta một hệ thống triết lý, phân tâm học rất đầy đủ và tiến bộ hơn bất cứ hệ thống nào trong khoa học hiện đại.
Sau đây, tôi xin nêu thêm vài thí dụ về cái biết của Phật Giáo như được viết trong Kinh Điển Phật Giáo:
1. Về thế giới vô cùng nhỏ: Chúng ta đều biết rằng, khi xưa Đức Phật thường khuyên các đệ tử trước khi uống nước hãy niệm chú để phổ độ cho các vi chúng sinh có trong nước. Người còn khẳng định trong mỗi bát nước có tới 84000 sinh vật nhỏ nhoi mà mắt thường chúng ta không thể nhìn thấy được. Chúng ta nên hiểu con số 84000 trong Phật Giáo có nhiều ý nghĩa và một trong những ý nghĩa này là tượng trưng cho một con số lớn chứ không phải là một con số chính xác. Hơn 21 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 16, năm 1595, các khoa học gia đã phát minh ra cái kính hiển vi đầu tiên và nhờ đó đã có thể nhìn thấy trong một giọt nước có một số lớn các vi sinh vật mà mắt thường không thể nhìn thấy được.
Kính Hiển Vi Meiji Techno MT4200
2Về Thế Giới Vô Cùng Lớn: Quan niệm của Phật Giáo về vũ trụ như sau: thế giới chúng ta đang sống không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ. Ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có rất nhiều thế giới khác, và Phật giáo phân loại các thế giới thành 3 loại: Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, và Đại Thiên Thế Giới. Danh từ thế giới trong Phật -giáo chỉ một thiên thể (thí dụ như trái đất) hoặc một tập hợp các thiên thể được coi như thuộc một nhóm (thí dụ như thái-duơng-hệ mà trái đất là một hành tinh trong đó). Vậy, một ngàn thế giới họp thành một Tiểu Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới họp thành một Trung Thiên Thế Giới, và một ngàn Trung Thiên Thế Giới họp thành một Đại Thiên Thế Giới. Vậy, lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới thì Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế Giới gồm khoảng một triệu thế giới , Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế giới v..v.. Đó là quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo từ hơn 2500 năm về trước. Nhưng sau đó 22 thế kỷ, vào thế kỷ thế 17, Tây phương vẫn còn chưa thoát khỏi quan niệm sai lầm về trời tròn đất vuông, trái đất được coi là trung tâm vũ trụ, và rằng mặt trời quay xung quanh trái đất như đã viết trong Thánh Kinh.
Trở lại quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo, chúng ta thấy rằng quan niệm này hầu như tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày nay của những nhà thiên văn (astronomers) hay những nhà vật-lý-học về thiên thể (astrophysicists), và đã đi trước khoa-học nhiều thế kỷ. Một Tiểu Thiên Thế Giới có thể so sánh với quan niệm hiện đại về một thiên hà (galaxy) gồm có cả triệu ngôi sao và những hành tinh có thể có sinh vật trên đó. Thí dụ như giải ngân hà (Milky Way) hay M31, hay chòm sao (constellation) Andromeda. Một Trung Thiên Thế Giới có thể so sánh với một chùm thiên hà (galactic cluster) thí dụ như chùm Coma Berenices, và một Đại Thiên Thế Giới có thể so sánh với cái mà Hannes Alfven gọi là siêu thiên hà (metagalaxy) ở trong Đại Vũng (Big Dipper) của Tiểu Ursa (Minor Ursa) trong đó có ít ra là cả triệu thiên hà. Cho tới nay, vì những giới hạn tự tại của những dụng cụ quan sát cho nên các khoa học gia chưa thể đi xa hơn trong việc khảo sát vũ trụ. Nhưng không phải vì những giới hạn kỹ thuật này mà vũ trụ cũng bị giới hạn theo, và nay chúng ta đã hiểu tại sao Đức Phật lại "bỏ ngỏ" quan niệm về vũ trụ hữu hạn hay vô hạn. Điều này chứng tỏ Đức Phật đã thấy rõ khả năng vô tận của con người, và rằng Phật Pháp không phải là những giáo điều cứng ngắc không bao giờ thay đổi. Và đây cũng chính là tinh thần khoa học hiện đại, không có gì có thể coi như là vĩnh cửu, bất biến.
Bức hình trên do NASA ghép một số các mảnh thiên hà trong vũ trụ. Từ bên trái hàng trên đên bên mặt hàng dưới: M61, NGC 4449, NGC 4725, NGC 5068, NGC 5247, and NGC 5775/5774. Đa số hình xoắn ốc gần giống như giải ngân hà Milky Way của chúng ta.

Nói đến quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo thì chúng ta không thể bỏ qua Kinh Hoa-Nghiêm, phẩm Thế Giới Thành Tựu. Trong phẩm này, Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới: nhân duyên khởi, chỗ trụ nương, hình trạng, thể tánh, trang nghiêm tánh, thanh tịnh tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biến sai biệt, và môn vô sai biệt. Để cho vấn đề tương hợp với khoa học được rõ ràng, sau đây tôi xin luận về hai điểm : hình trạng và kiếp trụ các thế giới. Chúng ta hãy xét đoạn kinh văn sau đây:
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn....hoặc hình như nước xoáy....hoặc hình như hoa ... có vi trần số hình sai khác như vậy."
Rồi trong phẩm tiếp theo, phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Phổ Hiền Bồ Tát lại tuyên thuyết: "Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu Di, hoặc hình sông, hoặc hình xoay chuyển, hoặc hình nước xoáy, hoặc hình trục xe...hoặc hình hoa sen...có vi trần số hình trạng như vậy." ("Kinh Hoa-Nghiêm", Thích Trí Tịnh, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản)
So sánh với những hình trạng của các chòm sao, giải thiên hà, ngân hà khám phá bởi khoa học ngày nay chúng ta thấy Phật giáo đã mô tả hình trạng của chúng một cách vô cùng chính xác. Thí dụ như các hình như bánh xe, nước xoáy chúng ta có thể quan sát được trong các chòm sao như Cetus, Pegasus và Hercules, hình sông là giải ngân hà (Milky Way) và nhiều thiên hà khác, hình dạng như hoa là những khối tinh vân trong khoảng không gian liên-thiên-hà (intergalactic clouds of gas) có chứa hàng tỷ ngôi sao v...v... Thật tôi không thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính thiên văn, dù thô sơ nhất, mà Đức Phật và các Đại Bồ Tát đã có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên. Có cách giải thích nào khác là chúng ta phải tin rằng, do Thiền Định và vì đã giác ngộ hoàn toàn, cho nên các Ngài đã nắm vững được cơ cấu huyền bí của vũ trụ, nếu không thì làm sao có thể biết được những điều như trên. Và chúng ta cũng nên nhớ là những điều đức Phật và các Bồ Tát chọn để tuyên thuyết cho người đời chẳng qua cũng chỉ là một nắm lá trong tay so với số lá cây trong rừng.
Sau đây, tôi xin đưa ra vài hình ảnh mà các khoa học gia đã chụp được trong vũ trụ, và quý vị sẽ thấy những mô tả về hình trạng thế giới trong Kinh Hoa Nghiêm chính xác như thế nào.
Hình xoay chuyển của Thiên Hà NGC 523 Sculptor

Hình bánh xe của Thiên Hà Andromeda
Hình nước xoáy của Thiên Hà [The Spiral Galaxy NGC 2997]

Hình hoa nở của Thiên Hà Trifid
Hình vòng nhẫn của khối tinh vân 250px-M57_The Ring Nebula

Hình núi Tu Di của Thiên Hà M104: The Sombrero Galaxy

Tiếp theo, về kiếp trụ của các thế giới, Kinh văn viết rằng:
"Lúc đó Phổ Hiền Bồ-Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có a-tăng-kỳ kiếp trụ, hoặc có vô-lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất-khả-sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất khả thuyết kiếp trụ, ..có vi trần số kiếp trụ như vậy."
Rồi trong bài kệ để tuyên lại nghĩa này Bồ Tát Phổ Hiền có giải thích bằng một câu: "Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số, Bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng." Chỉ một câu "bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng" cũng đã giải quyết vấn đề "thiên sai vạn biệt" trong vũ trụ. Thật là đầy đủ, thật là rốt ráo, thật là chính xác. Nếu chúng ta đi sâu vào một chút trong đoạn kinh văn trên, chúng ta sẽ thấy Phật Giáo đã đi trước khoa học như thế nào.
Phật giáo phân biệt: Tiểu Kiếp có 16 triệu 8 trăm ngàn năm, Trung Kiếp có 336 triệu năm, và Đại Kiếp có 1 tỷ 344 triệu năm. Theo khoa học hiện nay thì một ngôi sao (coi như là một thế giới) mà chất lượng (mass) càng nặng thì đời sống của ngôi sao càng ngắn. Do đó có những ngôi sao chỉ "sống" được từ 1 tới vài tỷ năm và người ta đã tính được rằng một ngôi sao có chất lượng nhẹ hơn những ngôi sao trên khoảng 90 phần trăm thì ngôi sao này có thể sống tới hàng ngàn tỷ năm. Điều này rất phù hợp với câu kệ trên của Phổ Hiền Bồ Tát, có thế giới chỉ tồn tại một kiếp, có thế giới tồn tại vô số kiếp v...v....
Thứ đến, những danh từ như a-tăng-kỳ, vô lượng, vô biên,...bất khả thuyết có vẻ như mơ hồ và không rõ ràng như những con số trong thời đại khoa học. Thật ra không phải vậy, vì trong phẩm A-Tăng-Kỳ, Kinh Hoa Nghiêm ta đọc được như sau, tôi xin đánh số cho nó rõ ràng hơn:
Phật nói: Này thiện nam tử!
1. Một trăm Lạc Xoa làm một Câu Chi.
2. Câu Chi lần Câu Chi làm một A-Giu-Đa
3. A-giu-Đa lần A-Giu-Đa làm một Na-Do-Tha
4. Na-Do-Tha lần Na-Do-Tha làm một Tần-Bà-La
và tiếp tục như vậy tất cả là 123 lần, trong đó số 104 là A-Tăng-Kỳ, số 106 là Vô Lượng, số 108 là Vô Biên, số 110 là Vô Đẳng, số 112 là Bất-Khả-Sổ, số 114 là Bất-Khả-Xưng, số 116 là Bất-Khả-Tư, số 118 là Bất-Khả-Lượng, và số 120 là Bất-Khả-Thuyết.
Chúng ta biết rằng khoa học ngày nay dùng ký hiệu lũy thừa để viết những con số lớn. Thí dụ như 1 triệu là con số 1 với 6 con số 0 đằng sau, 1 000 000, theo ký hiệu điện toán được viết như sau: 10^6 và đọc là 10 lũy thừa 6; 1 tỷ gồm có 9 số 0 và được viết là 10^9 (billion), lớn hơn nữa là 10^12 (1 ngàn tỷ hay trillion), 10^15 (1 triệu tỷ hay zillion) và khoa học chưa có những danh từ riêng để chỉ những con số lớn hơn. Tiếng Việt thì chỉ tới số tỷ là cao nhất.
Theo Kinh Phật thì 1 Lạc Xoa là 100 ngàn, nghĩa là 10^5. Như vậy 1 Câu Chi là 10 triệu, nghĩa là 10^7; 1 A-Giu-Đa là 100 ngàn tỷ, nghĩa là 10^14; 1 Na-Do-Tha là 10 tỷ tỷ tỷ, nghĩa là 10^28. Tiếp tục tính ra ta sẽ thấy 1 A-Tăng-Kỳ là khoảng, 10^(7.09… x 10^31), nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi hơn 7000 tỷ tỷ tỷ con số 0 ở đằng sau, một con số vô cùng lớn nhưng vẫn có một tên riêng. Chúng ta có thể suy ra:
Vô Lượng = 10^(2.83… x 10^32), Vô Biên = 10^(1.13… x 10^33),...
và Bất-Khả-Thuyết = 10^(4.65… x 10^36) nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi khoảng hơn 4 tỷ tỷ tỷ tỷ con số 0 đứng đằng sau.
Những con số khoa học hiện đại dùng tới có lẽ chỉ vào khoảng 10^40 nghĩa là chỉ có 40 con số 0 đứng sau. Chúng ta thấy ngay rằng, ngay cả về phương diện toán số, Phật giáo đã đi trước khoa học khá xa về sự biểu thị chính xác những con số và đã có quan niệm về những con số vô cùng lớn, lớn ngoài mức tưởng tượng của các khoa học gia hiện đại.
Quan niệm nhìn vũ trụ một cách toàn ký (The holographic view of the universe) là một quan niệm mới trong khoa học hiện đại, bắt nguồn từ sự khám phá ra kỹ thuật chụp hình toàn ký vài thập niên trước đây. Kỹ thuật chụp hình toàn ký này đã giúp cho một số khoa học gia giải quyết được một số khúc mắc trong những công cuộc khảo cứu của họ về ký ức của con người cũng như trong ngành vật lý các hạt nhỏ (particle physics). Các khoa học gia này, từ những kết quả khảo cứu mới nhất, đã đưa ra những bằng chứng và đề nghị rằng thế giới của chúng ta ngày nay và mọi thứ trong đó chẳng qua chỉ là những hình ảnh không thực, là những dự phóng của một thực thể vượt ra ngoài thực thể của con người và vượt ra ngoài không gian và thời gian.
Hai khoa học gia được biết đến nhiều nhất trong quan niệm mới này là nhà vật-lý học David Bohm, rất nổi tiếng trong ngành vật lý nguyên lượng (quantum mechanics), thuộc đại học Luân Đôn, Anh quốc, và Karl Pribam, một nhà thần-kinh sinh-lý-học (neurophysiologist) thuộc đại học Stanford, California. Điều đặc biệt là Bohm và Pribam, tuy khảo cứu về hai ngành hoàn toàn khác biệt, cùng phải dựa vào quan niệm toàn ký để giải thích những kết quả khảo cứu của mình. Bohm khảo sát về sự tương tác của các hạt nhỏ trong ngành vật lý tiềm nguyên tử (subatomic physics), và Pribam khảo sát về ký ức của con người trong ngành thần-kinh sinh-lý học. Không đi vào chi tiết, hai khoa học gia trên đều nhận thấy rằng các lý thuyết cũ trong khoa học không đủ để giải thích mọi vấn đề trong các ngành khảo cứu của họ, và khuôn mẫu toàn ký (holographic paradigm) đã giúp họ giải thích một cách hợp lý các kết quả khoa học của họ.
Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta có thể nói ngay rằng khuôn mẫu toàn ký chẳng qua chỉ là sự thuyết giải khoa học của một phần nhỏ những quan niệm đặc thù trong Phật Giáo đã có từ nhiều thế kỷ trước như tương duyên, tương tức, tương nhập, tương liên, một là tất cả v...v... Nhưng trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu đại cương thế nào là khuôn mẫu toàn ký.
Toàn ký (holography) là một kỹ thuật tạo hình ảnh bằng một loại ánh sáng đặc biệt thường được biết tới tên quen thuộc là ánh sáng LASER và hiện tượng giao thoa (interference) quen thuộc của các sóng. LASER là những chữ đầu của "Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation", có nghĩa là "ánh sáng khuếch đại do phát xạ kích thích của bức xạ", hay gọn hơn: "ánh sáng khuếch đại do bức xạ kích thích".
Một phim ảnh toàn ký được tạo ra khi một tia sáng LASER đơn sắc được tách ra làm hai tia riêng biệt. Tia thứ nhất được chiếu trên vật muốn chụp hình, thí dụ một bức tượng Phật, dội lại và hợp với tia thứ hai tạo thành một mô thức giao thoa và được ghi trên một tấm phim ảnh.
Dùng mắt thường mà nhìn thì hình giao thoa trên tấm phim, có tên khoa học là “toàn ký đồ”, không có gì là giống bức tượng Phật cả, mà chỉ là một số mô hình gồm những vòng đồng tâm tương tự như những vòng sóng lăn tăn trên mặt nước khi ta ném một nắm sỏi xuống nước. Hình sau đây chỉ là một thí dụ về toàn ký đồ chứ không phải là toàn ký đồ của bức tượng Phật.
Một Toàn Ký Đồ [A Hologram Pattern]
Nhưng khi ta chiếu qua tấm phim này bằng một tia LASER khác, hoặc đôi khi chỉ cần một ngọn đèn thật sáng, một cái hình nổi của bức tượng Phật sẽ hiện ra. Hình này trông y như thật, ta có thể đi vòng xung quanh hình tượng Phật này và thấy đó là một bức tượng thật, bất kể nhìn dưới góc cạnh nào. Nhưng nếu ta muốn nắm bắt hình tượng Phật này thì ta sẽ không thành công bởi vì khi ta đưa tay vào chỗ hình tượng Phật này thì sẽ không thấy gì, vì thật ra đó chỉ là một ảo ảnh. Ngày xưa Phật đã chẳng nói, Phật thì vô hình vô tướng, làm sao mà nắm bắt được, và Tâm Kinh đã chẳng dạy là "Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không, không chính là sắc" hay sao?
Nhưng điểm kỳ diệu của kỹ thuật toàn ký là, nếu ta cắt tấm phim ảnh ra làm hai, rồi chiếu lên mỗi nửa tấm phim này bằng một tia LASER, ta sẽ thấy mỗi nửa tấm phim sẽ lại tạo ra hình ảnh của toàn phần tượng Phật. Cứ tiếp tục chia cắt như vậy, mỗi mảnh nhỏ của tấm phim vẫn tạo ra nguyên hình của toàn thể bức tượng tuy càng ngày càng mờ nếu mảnh phim càng ngày càng nhỏ hơn. Nói tóm lại, kỹ thuật toàn ký đã khám phá lại một phần của một quan niệm rất quen thuộc trong Phật Giáo: một là tất cả. Để cho sự so sánh được rõ ràng hơn, có lẽ chúng ta nên đi thêm vào vài chi tiết trong công cuộc khảo cứu của Pribam và Bohm.
Pribam khám phá ra rằng, ký ức của con người được phân bố đều trong bộ óc và mỗi phần của bộ óc chứa trọn vẹn những thông tin mà bộ óc ghi nhận. Nếu ta cắt bỏ một phần các vùng ký ức, có khi là một phần khá lớn, ở trong óc một người thì ký ức của người đó không bao giờ mất đi một phần, và nếu người đó nhớ một cái gì đó thì bao giờ cũng nhớ trọn vẹn chứ không bao giờ chỉ nhớ một phần, thí dụ như chỉ nhớ 1 phần những người trong gia đình, hay một phần của một khuôn mặt quen thuộc, hay một phần của một câu chuyện mà người đó đã được kể cho nghe.
Khảo sát về sự tương tác giữa các hạt nhỏ trong ngành vật lý tiềm nguyên tử (subatomic physics), Bohm đưa ra nhận định như sau: Thuyết tương đối, quan trọng hơn nữa, cơ học nguyên lượng (quantum mechanics) đề nghị rằng, người ta không thể phân tích thế giới thành những phần riêng biệt và độc lập. Hơn nữa, mỗi phần có vẻ như bằng cách nào đó liên hệ tới mọi phần khác: chứa đựng lẫn nhau hoặc bao hàm nhau.
Chúng ta thấy rằng kỹ thuật toàn ký đã tạo ra một căn bản giải thích những kết quả khảo cứu của Pribam và Bohm. Và Pribam đã đặt một câu hỏi: Nếu các hình ảnh của thực tại ghi trong óc của chúng ta không phải là một hình ảnh như chúng ta thường thấy mà là một toàn ký đồ (hologram), vậy thì toàn ký đồ là cái gì?
Vấn đề khúc mắc là ở chỗ nếu ta chụp hình toàn ký một cảnh, thí dụ một đám người ngồi quanh một cái bàn, và khi rửa phim ra ta thấy không phải là một đám người mà lại là những hình giao thoa, vậy thì thực tại là cái gì? Là những hình ảnh thông thường chúng ta thấy ở ngoài đời ghi nhận bởi quan sát viên/nhiếp ảnh viên hay là những hình mờ ảo giao thoa ghi bởi máy chụp hình/óc con ngườỉ? Pribam ý thức được rằng cái mẫu về "óc toàn ký" với những các kết luận hợp lý của nó đã dẫn đến một vấn nạn về thế giới của thực tại khách quan; thế giới của sông, núi, cây cỏ có thể là không hiện hữu, ít ra là không hiện hữu như chúng ta thường tưởng là hiện hữu. Phải chăng quan niệm về ảo tưởng (maya) của những huyền nhiệm gia cách đây nhiều thế kỷ là đúng, và những cảnh xum la vạn tượng chẳng qua chỉ là vùng rộng lớn các tần số (vast frequency domain) biến đổi thành những sự vật SAU KHI nhập vào các giác quan của con người. Nhưng lãnh vực khảo cứu của Pribam chỉ về ký ức con ngưòi, và khi biết được những kết quả khảo cứu của Bohm, không những Pribam tìm ra được giải đáp cho những thắc mắc trên mà còn biết được rằng, theo Bohm, toàn thể vũ trụ chỉ là một toàn ký đồ (hologram).
Nói một cách vắn tắt thì quan niệm về vũ trụ của Bohm như sau: thực tại mà chúng ta thấy hàng ngày thực ra chỉ là một loại ảo tưởng, giống như một hình ảnh toàn ký. Đằng sau cái thực tại này là một sự xếp đặt sâu sắc hơn của sự hiện hữu mà ta có thể coi như là bản chất rộng lớn của một thực tại từ đó sinh ra mọi sự vật tạo thành thế giới vật chất của chúng ta, giống như một mảnh phim toàn ký tạo ra một toàn-ký-đồ. Bohm gọi cái thực tại sâu sắc này là cấp ẩn (implicate order) hay sự xếp đặt ẩn và những thứ chúng ta thấy thường ngày thuộc cấp hiện (explicate order) hay sự xếp đặt hiện của mọi vật. Nói một cách tóm tắt dễ hiểu thì mọi vật đều sinh ra từ một căn bản chung, và căn bản chung này khi nhập vào giác quan của con người thì sinh ra mọi sai biệt mà chúng ta thường thấy ở ngoài đời.
Nhưng có ai ngờ rằng, những quan niệm về vũ trụ dựa trên khuôn mẫu toàn ký trên đã là những quan niệm đặc thù của Phật Giáo từ bao thế kỷ trước đây. Thật vậy, quan niệm về Chân Không Diệu Hữu, và quan niệm về Tâm Chân Như và Tâm Sai Biệt của Bồ Tát Mã Minh trong Đại Thừa Khởi Tín Luận không khác gì quan niệm toàn ký của Bohm ở trên, nếu không muốn nói là còn sâu sắc hơn và đầy đủ hơn. Và, nếu chúng ta quen thuộc với kinh điển Phật Giáo, nhất là kinh Hoa Nghiêm, thì chúng ta sẽ thấy rằng khuôn mẫu toàn ký và những quan niệm của Pribam và Bohm thực sự đã chậm mất 25 thế kỷ. Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta hãy đọc phớt qua chút ít về Kinh Hoa Nghiêm.
Trước hết, chúng ta hãy đọc vài lời tựa của Hòa Thượng Thích Đức Niệm ở đầu mỗi cuốn trong bộ kinh Hoa Nghiêm do Thích Trí Tịnh dịch:
"Kinh Hoa Nghiêm là bộ Kinh Đại Thừa, là vua trong các Kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện Pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.
...Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt, hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với tâm là một, vạn vật đồng nhất thể....Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng dưới nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả."
Vài lời trên đã tóm tắt phần nào những tinh túy của Kinh Hoa Nghiêm. Thật vậy, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong Phẩm Nhập Pháp Giới, lời của nữ nhân Thích Ca Cù Ba giảng một pháp môn giải thoát cho Thiện Tài đồng tử:
"Này Thiện Nam Tử!.. Ta quán thân của Bồ Tát, nơi mỗi lỗ chân lông, mỗi niệm thấy vô lượng vô biên thế giới rộng lớn, những sự an trụ, trang nghiêm, hình trạng, những núi, đất, mây, danh hiệu, Phật xuất thế, những đạo tràng, chúng hội, diễn thuyết những khế kinh, những sự quán đảnh, các thừa, những phương tiện, những thanh tịnh.
Lại mỗi niệm nơi mỗi lỗ chân lông của Bồ Tát thường thấy vô biên phật hải, những sự ngồi đạo tràng, những thần biến, thuyết pháp, thuyết kinh hằng không gián đoạn.
Lại nơi mỗi lỗ chân lông của Bồ Tát thấy vô biên chúng sanh hải: những trụ xứ, hình mạo, tác nghiệp, căn tánh...."
Với lời tựa của Hòa Thượng Thích Đức Niệm và lời trích dẫn trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy rằng quan niệm toàn ký của các khoa học gia đã dựa vào các tư tưởng của Phật Giáo rất nhiều. Nhưng xét cho kỹ thì quan niệm toàn ký trong khoa học chỉ có tác dụng giải thích một số khúc mắc trong khoa học một cách đại cương trong khi quan niệm về tương thông, tương tức, hay dung thông vô ngại bao trùm mọi pháp giới. Nếu chúng ta đọc đoạn cuối của Kinh Hoa Nghiêm , khi Thiện Tài đồng tử vào trong lâu các Tỳ Lô Giá Na và rồi sau đó gặp Phổ Hiền Bồ Tát thì chúng ta sẽ thấy quan niệm về một vi trần chứa đủ thiên sai vạn biệt trong vũ trụ đã được trình bày với đầy đủ chi tiết và kèm vào đó những công hạnh của Bồ Tát. Và đây chính là điểm vi diệu của Kinh Phật vì ngoài việc dùng để giải thích những sự việc ngoài đời như khoa học, điểm chính yếu là cái dụng của Kinh Phật như sẽ được tóm tắt sau đây.
Chúng ta biết rằng kinh căn bản trong Hoa Nghiêm Tông là Kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm bao gồm toàn bộ giáo lý Phật Giáo một cách hòa hợp, đa dạng; đó là một kinh được coi là cao nhất trong mọi kinh Phật ở Á Châu. Kinh trình bày một môn siêu hình học vô cùng tiến bộ và là một tập hợp phát triển tư tưởng một cách kỹ lưỡng, tinh tế để dẫn con người tới toàn giác.
Nhưng muốn nhận định đúng giá trị của Kinh Hoa Nghiêm chúng ta phải xét đến cái mặt dụng của Kinh này. Vì chúng ta đã biết, trong Phật Giáo, Kinh Phật thật là vô ích nếu chúng ta chỉ để ý tới phần lý thuyết mà không áp dụng chúng vào đời sống thường ngày. Các thiền sư thường ví những người tìm hiểu kinh mà không thực hành như là những người "đọc thực đơn mà không ăn" hay là "đếm tiền của thiên hạ trong ngân hàng".
Nói một cách ngắn gọn, Kinh Hoa Nghiêm cho chúng ta một tập hợp những phương thức tu tập - một lối nhìn sự vật trên mọi góc cạnh, từ đó khám phá ra sự hòa hợp và bổ túc lẫn nhau tiềm ẩn sau những khác biệt và mâu thuẫn biểu kiến của mọi sự vật ở trên đời. Giá trị của sự tu tập này là sự phát triển một quan điểm tròn đầy, lành mạnh, giúp ta khám phá ra sự thống nhất của mọi Pháp nhưng không phủ nhận sự khác biệt của các Pháp. Từ quan điểm này, con người vượt qua được những ngăn ngại tâm linh do sự chấp vào các sai biệt của vạn vật mà sinh ra. Quan niệm về Chân Đế và Tục Đế của Bồ Tát Long Thọ trong Đại Trí Độ Luận sẽ giúp chúng ta tu tập trong Chân Đế nhưng không quên Tục Đế. Từ đó, với sự phát triển bồ đề tâm, cái quan điểm viên dung này vận hành bất tuyệt trên cách hành xử của các bồ tát trong công cuộc tự giác, giác tha. Một khi hội nhập được vào ý tưởng dung thông vô ngại của Kinh Hoa Nghiêm, với căn bản là bồ đề tâm, hành giả sẽ không còn bị ngăn ngại bởi bất cứ cái gì về cách hành xử trong Bồ Tát Đạo. Hành giả sẽ tự do hành xử để giúp chúng sinh ra khỏi chỗ mê mờ của những giáo lý những điều mê tín không còn thích hợp với sự tiến bộ tri thức của con người ngày nay.
Bài trên đây chỉ có mục đích chứng tỏ rằng các tư tưởng trong Phật Giáo đã đi trước và sâu sắc hơn các quan niệm của khoa học hiện đại nhiều, hiển nhiên tôi không thể đi vào chi tiết của khoa học cũng như Kinh điển Phật Giáo trong một bài viết ngắn. Bạn đọc nào muốn hiểu thêm về bồ đề tâm hay những quan niệm như tương duyên, tương tức, dung thông vô ngại trong Phật Giáo xin hãy chăm đi lễ Chùa và thụ huấn quý Thày. Tôi bảo đảm là các bạn sẽ không cảm thấy lãng phí thì giờ trong việc tìm hiểu kinh Phật vì Kinh Phật là một kho tàng vô giá và vô tận để phát triển trí tuệ con người thay vì giam hãm đầu óc con người trong những ngục tù tâm linh¨
______________
(*) Đính chính bổ túc của SH ngày 27 tháng 5, 2017: Về những câu trích dẫn của Einstein, nghiên cứu cho biết đến nay vẫn chưa tìm được nguồn tài liệu khả tín. Xin đọc bài Phật Giáo Với Những Ảo Tưởng Thời Thượng của Trần Trọng Sỹ mới đăng 24-May-2017

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2008

Hoa Phong Lan truyện


Mấy nghìn năm trước, trên đỉnh ngọn Ngọc Bút Phong Tuyết Sơn (玉筆風雪山), vào một ngày đẹp trời hào quang chiếu rọi muôn phương, linh khí của trời đất quần tụ, bảy sắc cầu vòng sáng rực rọi chiếu kim quang, từ trung tâm của vầng hào quang đó bỗng xuất hiện một đồng nam. Mới sinh ra đã có dáng vóc của một thành nhân, đôi mắt sáng ngời, thông minh vời vợi, đồng nam đó với tay lấy một chùm hoa phong lan xanh biếc quấn lên mình thành y phục.
Thần vũ trụ nói: con trai của ta, mới sinh ra đã hào hoa như vậy thì lấy tên là Hoa Phong Lan, sau này nhớ gắng sức làm việc giúp đời tươi vui nhé!
Từ đó tiên giới biết đến một vị nam thần luôn tươi cười vui vẻ trẻ trung. Hoa Phong Lan đi đến đâu, hoa cỏ khoe sắc, ong bướm bay lượn, chim trời cất tiếng hót vang. Khắp nơi trong tam giới đều được hưởng phúc lành.
Với tấm lòng chân thật, yêu đời, yêu người, yêu cái đẹp, nâng niu phụ nữ, đã khiến cho bao trái tim của các người đẹp rung động.
Hằng Nga là một tiên nữ trẻ trung, nàng có sắc đẹp ngất trời, giọng ca ấm áp, khiến cho ai nghe cũng cảm thấy ngất ngây.
Hoa Phong Lan và Hằng Nga quấn quít bên nhau tối ngày, vui chơi cùng cỏ cây, đem tiếng hát, tiếng cười đến cho mọi người. Ai ai trong tam giới đều rất yêu quí đôi đồng nam, đồng nữ này.
Trong một lần đuổi hoa trêu bướm, hai nhân vật của chúng ta lạc chân vào vườn Thiên Cung Lạc Uyển của Tây Vương Mẫu nương nương. Lạc chân vào trốn thần tiên, hai người thấy choáng ngợp với một rừng đào quả chín hoa thơm. Hoa Phong Lan liền hái một quả cho Hằng Nga tiên nữ, một quả cho mình, hai người cùng ăn, rồi cùng nhìn nhau cười thích chí.
Chuyện hai người lạc vào vườn đào đến tai Vương Mẫu. Vương Mẫu kiện lên Ngọc Đế. Vậy là Hoa Phong Lan bị Ngọc Đế bắt tội, bị đầy xuống trần gian đoái công chuôc tội, phải làm được 999999999999 việc tốt trong 9999 năm thì mới gỡ được hết tội. Hằng Nga thì bị giam cầm ở cung trăng đến khi nào gà mổ hết núi gạo.
Từ đó trở đi, đã mấy nghìn năm Hoa Phong Lan và Hằng Nga không còn được ở bên nhau nữa. Hằng Nga thì cô quạnh một mình nơi cung trăng lạnh lẽo, chỉ còn Thỏ Ngọc để trò chuyện. Nhưng Hoa Phong Lan được tung hoành trần gian lại như cây được thêm nước, như gió được gặp mây, bản tính phong lưu lãng mạn không hề mất đi mà lại càng ngày càng thăng tiến vượt bậc.
Tuy nhiên Thỏ Ngọc là bạn thân của Hoa Phong Lan, nên mỗi năm vào dịp Mid-fall, khi tất cả các thần tiên trên thượng giới đang mải ăn chơi say bí tỉ thì Thỏ Ngọc lại trộm mở khoá cho Hằng Nga trốn khỏi cung Trăng lướt gió xuống hạ giới thăm Hoa Phong Lan.
Khi Hằng Nga bị giam cầm trên cung trăng, luôn luôn dõi ánh mắt về phía Hoa Phong Lan, thấy Hoa Phong Lan sống ở trần gian đã mấy nghìn năm quá phong lưu sung sướng. Hằng Nga thì bị giam cầm, nổi cơn ghen lồng lộn tức tối, thề rằng nếu gặp Hoa Phong Lan thì sẽ xé ra thành nghìn mảnh. Ấy vậy mà khi bay xuống đến trần gian, gặp được nhau thì mọi sự tức tối đều tan biến. Thời gian mỗi năm gặp nhau có một lần thương nhau còn chẳng đủ, lấy đâu ra thời gian để giận dỗi.
Vào một đêm mùa thu, trăng thanh gió mát, HPL ra bờ sông nằm ngửa mặt lên trời nhìn về nơi cung trăng, nơi giam giữ người tình của HPL từ 2000 năm trước.

Bỗng cánh cửa cung trăng hé mở, Hằng Nga bay xuống với HPL, thì ra là do Thỏ Ngọc đã trộm mở cửa cung nhân lúc các vị tiên quan đang say khướt trên tiệc bàn đào bên cung Thánh Mẫu Nương Nương.

HPL và Hằng Nga gặp nhau lưu luyến không muốn rời. Đến thời khắc chia tay, HN nói với HPL: "em sẽ hóa thân vào một cô gái có đôi mắt đen sáng long lanh, có đôi môi đỏ thắm, mỗi khi cười thì tươi như ngàn sao hội ngộ, có mái tóc mềm mượt thướt tha... anh sẽ tìm thấy em trong ngàn vạn dân chúng", nói xong HN bay vội trở lại cung trăng...

Sau khi nói xong, Hằng Nga vụt bay về thượng giới, để lại một mình HPL tần ngần trông theo...

Giật mình tỉnh giấc, trong tay thấy có một hạt đào tiên...

HPL bần thần, biển người mêng mông, biết đi đâu tìm được người yêu dấu?

Ba ngày sau, đêm trăng muộn, HPL lại ra nơi bờ sông nơi gặp Hằng Nga hôm trước, buồn bã nằm ngửa mặt nhìn trời, cuộc đời phong lưu cũng đã mệt mỏi, mối tình ngàn năm mãi vẫn chưa được chung đôi...

Đang miên man suy nghĩ, chợt từ cung trăng lại thấy xuất hiện một bóng hồng đang bay đến, tưởng là Hằng Nga lại xuất hiện, HPL hồ hởi đứng lên, nhưng tới gần đó lại là Thỏ Ngọc.

Thỏ Ngọc ngồi xuống, để chàng gối đầu lên đùi, tay nàng nhẹ vuốt mái tóc chàng, nàng thì thầm nói:

- Hằng Nga đã không còn ở trên đó nữa, vì yêu chàng, chị của thiếp đã nộp đơn xin ân xá cho Ngọc Đế. Xin được đầy xuống làm kiếp người nơi trần thế, xin được chịu cảnh bể ải trầm luân, tuy nghèo khổ nhưng tấm lòng rộng mở, tuy đạm bạc nhưng cuộc sống muôn mầu. Ngọc Đế xét thấy: chị đã bị giam cầm trên 2000 năm, có cải tạo tốt, đồng thời nhân gian cũng cần thêm thần tiên xuống trợ giúp nên đã đồng ý với tâm nguyện của chị. Có điều, Ngọc Đế cũng đoán biết được chị muốn tìm gặp chàng, nên ngài đã xóa hết trí nhớ của chị về các kỷ niệm với chàng, bởi vậy bây giờ chỉ còn chờ vào sự cố gắng của chàng và duyên phận của hai người thế nào thôi.

HPL hỏi:

- Vậy chị của muội có dặn lại muội điểm gì để giúp ta không?

Thỏ ngọc nói:

- Chàng là HPL xanh biếc, phong lưu và đa tình, chị của thiếp là một cánh đào thắm hồng xinh xinh... thôi thiếp phải đi rồi, tạm biệt chàng, chúc hai người hạnh phúc!

Thỏ Ngọc vụt bay đi...

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2008

Tiến sang Trung Quốc tháng 8 năm 2008

http://my.opera.com/yentho12c1/albums/show.dml?id=596605

KINH TẾ - CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC NĂM 2008

Đăng ngày: 18-03-2013, 11:32 | Danh mục: Bài viết tạp chí » Năm 2009 » Số 1

Năm 2008, đánh dấu 30 năm Trung Quốc cải cách, mở cửa nền kinh tế, cũng là năm có nhiều sự kiện tác động cả thuận lợi và không thuận lợi đến tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Động đất ở Tứ Xuyên tháng 5/2008 đã gây tổn hại lớn cho nền kinh tế; Olimpic thế giới được tổ chức tại Bắc Kinh liên quan đến việc Trung Quốc đưa ra kế hoạch lấy năm 2008 là năm khẳng định vị thế cường quốc của mình thông qua thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo, và thể hiện sức mạnh kinh tế với ước muốn vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới. Cũng trong năm 2008, Trung Quốc chịu ảnh hưởng khá mạnh của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Theo đánh giá đưa ra vào cuối quý 3, mức tăng GDP cả năm của Trung Quốc chỉ đạt 9%, thấp hơn 2,4% so với năm 2007. Do tác động của khủng hoảng toàn cầu làm ảnh hưởng đến xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, mức tăng trưởng của Trung Quốc giảm dần theo quý. Trong nửa đầu năm, tăng trưởng 10,4%, đến hết quý 3 chỉ tăng trưởng 9%. Theo đánh giá của chúng tôi, trong cả năm, kinh tế Trung Quốc tăng khoảng 8,5%. Bên cạnh đó sự chậm lại này một phần cũng là hậu quả của chính sách thắt chặt tiền tệ mà Trung Quốc đã thực hiện trong năm 2007 nhằm kiềm chế lạm phát và ngăn chặn mức tăng quá nóng. Sản lượng lương thực cả năm 2008 của Trung Quốc đạt 511,5 triệu tấn.

Giữa tháng 12/2008, Trung Quốc kỷ niệm 30 năm cải cách mở cửa. Từ năm 1978 đến năm 2007, GDP của Trung Quốc tăng gần 20 lần, với mức tăng trung bình 9,6% mỗi năm, từ 216,5 tỷ USD lên 3,6 ngàn tỷ USD. Thu nhập công khố cũng tăng hơn 44 lần, từ 113,2 tỷ NDT lên 5130 tỷ TDT. Các chính sách hợp lòng dân, hợp thời đã giúp tạo ra một nguồn lực lớn hơn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Điều này đã giúp Trung Quốc nuôi sống hơn 1,3 tỷ dân, nâng sản lượng ngũ cốc từ mức gần 300 triệu tấn lên hơn 510 triệu tấn năm 2008. Trong lúc  cả thế giới thiếu lương thực và giá giá lương thực đắt đỏ nhất thì cung ứng và giá cả lương thực của Trung Quốc vẫn ổn định. Theo đánh giá của WB, 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc đã tạo nên một chiến dịch xoá đói giảm nghèo có quy mô lớn nhất, thành công nhất trong lịch sử nhân loại. Số người rất nghèo khi bắt đầu cải cách ở Trung Quốc là 250 triệu (tương đương 31% dân số nông thôn) đã giảm chỉ còn 15 triệu, tương đương 1,6% năm 2007. Không những thế, hiện Trung Quốc (cùng với Ấn Độ, Nga...) còn là một trong những nước có đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng của thế giới. Năm 2007, Trung Quốc đóng góp 17% vào tăng trưởng GDP thế giới (cao hơn nhiều so với mức của các nước đứng sau liền kề là Ấn Độ, Nga với 3-4%). Theo dự báo, trong năm 2009, trong bối cảnh các nước phát triển chỉ tăng trưởng từ 0 đến 1% thì Trung Quốc vẫn duy trì mức tăng trưởng khoảng 8 - 10%.

Những nét chính về Trung Quốc trong năm 2008 được thấy qua hai nhóm vấn đề: các vấn đề tác động thuận lợi và các vấn đề tác động không thuận lợi đến sự phát triển, ổn định của nền kinh tế.

INhóm các vấn đề tác động thuận lợi đến sự phát triển, ổn định của nền kinh tế

Thứ nhất, Quốc Vụ Viện Trung Quốc chính thức phê chuẩn Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây - xem đây là một cực tăng trưởng mới của Trung Quốc.

Ngày 6/1/2008, Quốc Vụ Viện Trung Quốc chính thức phê chuẩn “Kế hoạch phát triển khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây”. Đây được xem là chiến lược quốc gia trong hợp tác khu vực và quốc tế. Đây là cơ sở để triển khai hợp tác phát triển khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng, bao gồm hợp tác giữa 7 nước: Trung Quốc, Việt Nam và các nước Đông Nam Á qua Biển Đông khác như: Malaysia, Singapore, Indonnesia, Philipine, Bruney. Phía Trung Quốc có sự tham gia của các tỉnh: Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông, Hải Nam. Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN - Trung Quốc, hợp tác phát triển khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng  thực hiện mục đích phát huy vai trò thông lộ trên biển giữa Trung Quốc và ASEAN, thúc đẩy thương mại và đầu tư, thúc đẩy phát triển các cảng biển, phát triển ngành nghề và các thành phố trong khu vực.

Đây là khu vực  được xem như cực tăng trưởng mới thứ 6 của Trung Quốc (sau các khu phố Đông Thượng Hải, phê chuẩn tháng 2/2005; Khu Thiên Tân tháng 5/ 2006; Khu vực đồng bằng Chu Giang (Trùng Khánh - Thành Đô phê chuẩn năm 2007; Khu đồng bằng Trường Giang (Vũ Hán, Tư đàm - Hồ Nam) cuối năm 2007 và Khu Bột Hải). Kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây là khu duy nhất trong 6 khu kể trên có nội dung hợp tác quốc tế.

Khu Kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây có 2 tầng lớp. Thứ nhất là về hành chính, chia làm 6 khu vực: Nam Ninh, Bắc Hải, Khâm Châu, Sùng Tả, Phòng Thành. Phía đông giáp Quảng Đông, phía tây là TP. Sùng Tả, giáp Việt Nam. Thứ hai, về bố cục, bốn bên xoay quanh Vịnh Bắc Bộ chia 3 khu vực: gồm khu vực Thành thị, chiếm 9% tổng diện tích, khu vực nông thôn, chiếm 56% tổng diện tích) và khu vực bảo tồn sinh thái, chiếm 35% tổng diện tích). Tuyến ven biển sẽ chia thành các cụm cảng, cụm công nghiệp, khu du lịch - khu nghỉ ngơi, khu nuôi trồng, khu bảo vệ sinh thái và một khu gồm các nhóm ngành nghề khác. Về định vị công năng, đây là khu kinh tế mang tính quốc tế lớn, có tính kết nối vùng, sẽ phát triển “3 cơ sở, một trung tâm” gồm các cơ sở: kho vận, thương mại, gia công và một trung tâm là trung tâm thông tin giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Mục tiêu đưa ra là sẽ hình thành một cực tăng trưởng mới, đi trước Miền Tây với kinh tế phồn vinh, xã hội hài hoà, khá giả toàn diện trong vòng 10 đến 15 năm. Về chính sách, Trung ương Trung Quốc sẽ hỗ trợ Quảng Tây trên 5 mặt: 1/ Cải cách tổng hợp, bao gồm cải cách quản lý hành chính, cải cách chế độ quản lý đất đai, xây dựng hệ thống thị trường. Cho phép Quảng Tây mạnh dạn tiến hành thí điểm trong quá trình cải cách. 2/ Các hạng mục lớn như xây dựng, phê chuẩn dự án. 3/ Miễn thuế và kho vận, có thể cho phép xây dựng khu miễn thuế và khu kho vận (ở khu vực nối Sùng Tả với Cao Bằng và Lạng Sơn của Việt Nam). 4/ Trong chính sách tiền tệ, nhà nước cho phép thành lập ngân hàng địa phương, thành lập quỹ ngành nghề. 5/ Trong hợp tác mở cửa, khuyến khích vai trò đi đầu của Quảng Tây trong hợp tác với khu vực trên các phương diện năng lượng, du lịch xuyên quốc gia, bảo vệ sinh thái. Về quy hoạch giao thông: có đường hàng không, đường bộ, đường thuỷ. Về hàng không, Quảng Tây có 7 sân bay, trong đó sân bay dân dụng là Sân bay Nam Ninh (đứng thứ 31 ở Trung Quốc), sân bay Quế Lâm (đủ tiêu chuẩn sân bay quốc tế, đứng thứ 17 ở Trung Quốc), sân bay Bắc Hải (đứng thứ 47 ở Trung Quốc). Các sân bay quân sự như sân bay Liễu Châu, sân bay Ngô Châu. Về đường sắt, trong 5 năm tới, Quốc vụ Viện Trung Quốc sẽ đầu tư 15 tỷ USD cho xây dựng hệ thống đường sắt ở Quảng Tây (tương đương tổng đầu tư của nhà nước cho đến nay vào Quảng Tây). Một trong các mục tiêu của khoản đầu tư này là để giải quyết 3 nút thắt: 1/ Quế Châu - Nam Ninh. 2/ Đường sắt cao tốc nối Nam Ninh với Quảng Đông, và 3/ Tuyến nối Hồ Nam (ở phía Bắc) với Nam Ninh và Việt Nam (ở phía nam Quảng Tây). Trong khu kinh tế vịnh Bắc Bộ sẽ xây dựng các tuyến cao tốc: 1/ Sùng Tả - Khâm Châu; 2/ Ngọc Lâm - Thiết Sơn. Sẽ xây dựng để nâng công suất bốc xếp các cảng ven biển lên 100 triệu tấn so với mức 70 triệu tấn hiện năm 2007.

Thứ hai, Olimpic Bắc Kinh 2008. Theo Huang Wei, cố vấn kinh tế của Uỷ ban phát triển và cải cách Thành phố Bắc Kinh cho biết, trong thời gian 2001-2008, Trung Quốc đã đầu tư cho Olimpic ước tính lên đến 520 tỷ NDT (tương đương 76,11 tỷ USD). Như vậy tính từ 13/7/2001 - khi Trung Quốc giành được quyền đăng cai Olipic đến ngày khai mạc 8/8/2008, mỗi ngày đầu tư khoảng 29 triệu USD cho xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ Olimpic. Các công trình lớn phục vụ Olimpic phải kể đến là: sân vận động quốc gia tổ chim (gần 500 triệu USD), 12 sàn nhà thi đấu mới, cung thi đấu dưới nước, khu liên hợp 42 toà nhà của Làng thế vận hội Olimpic... phục vụ sự tham gia thi đấu của 10.708 vận động viên đến từ 205 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 302 nội dung của 28 môn thi đấu. Cùng với số vận động viên này còn có sự tham gia chứng kiến của lãnh đạo 80 quốc gia, 21.600 nhà báo đăng ký hoạt động và khoảng nửa triệu khách quốc tế và 1 triệu khách nội địa tham gia cổ vũ. Trong năm 2008, ước tính có khoảng 4,5 triệu lượt du khách nước ngoài đến Bắc Kinh. Tổng mức chi tiêu đạt khoảng 5 tỷ USD. Theo đánh giá, Olimpic Bắc Kinh 2008 đóng góp tăng 30% GDP của ngành dịch vụ Trung Quốc. Cần nhắc lại là Trung Quốc đưa ra kế hoạch lấy năm 2008, là năm khẳng định vị thế cường quốc của mình thông qua thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo được thấy một phần qua Lễ khai mạc Olimpic Bắc Kinh 8/8/2008, và thể hiện sức mạnh kinh tế với ước muốn vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới.

Như vậy ngoài gia tăng đầu tư, doanh thu từ các loại dịch vụ cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong năm 2008.

Thứ ba, Trung Quốc với vấn đề cải cách nông thônMột sự kiện chính trị quan trọng trong năm 2008 là từ 9 đến ngày 12/10 ở Bắc Kinh, Trung Quốc đã triệu tập Hội nghị Trung ương 3 khóa 17, với trọng điểm là cải cách nông thôn. nhằm vào các vấn đề như: thu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn; giải quyết tình trạng quyền lợi đất đai của nông dân thiếu sự bảo hộ hữu hiệu; tình trạng thu hồi đất của nông dân với giá thấp, đền bù không tương xứng… khiến cho tranh chấp thường xuyên diễn ra…Đặc biệt, diễn biến thị trường quốc tế tác động khiến giá tư liệu sản xuất nông nghiệp tăng mạnh làm giá thành sản xuất tăng, nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động tập trung rất khó khăn để tồn tại. Sau khi phiên họp lần thứ 4 kết thúc, nhiều ý kiến cho rằng có thể tới đây Trung Quốc sẽ cho phép nông dân mua bán thế chấp ruộng đất mà trên giấy tờ họ chỉ được quyền sử dụng. Một ngày sau khi Hội nghị Trung ương 3 khóa 17 kết thúc, ngày 13/10/2008, ở TP Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (quê hương ông Đặng Tiểu Bình) đã thí điểm mở cửa một thị trường mua bán quyền sử dụng đất. Thị trường này gần giống như  thị trường chứng khoán Thượng Hải, cái khác là người ta không mua bán các cổ phiếu mà mua bán các giấy tờ chứng thực quyền sử dụng đất. Theo ông Tần Thế Khôi, người đứng đầu Thị trường này, nông dân rất hồ hởi với việc thành lập sàn trao đổi này, họ gọi điện thoại nhiều hỏi về các luật lệ thủ tục trước khi tham gia thị trường.

Theo đánh giá, đây có thể là bước đầu quan trọng trong việc phát triển tư hữu hóa ruộng đất, một biện pháp mang tính cởi trói để kinh tế nông thôn Trung Quốc có thể phát triển nhanh hơn.

II. Nhóm các vấn đề tác động không thuận lợi đến sự phát triển, ổn định của nền kinh tế

Thứ nhất, động đất ở Tứ Xuyên tháng 5.2008 làm khoảng 80.000 người thiệt mạng, trong đó có 19000 học sinh.

Ngày 12/5/2008 một trận động đất mạnh 7,8 độ rich te xảy ra ở tỉnh Tứ Xuyên. Đây là một thảm hoạ thiên nhiên lớn nhất ở Trung Quốc trong 30 năm qua. Đặc biệt, trong khoảng 15 ngày sau đó đã có thêm gần 200 dư chấn khác với cường độ khác nhau, với 5 dư trấn mạnh từ 6 độ rích te trở lên làm cho số nhà đổ, số người chết gia tăng nhanh. Tính đến ngày 28/5, con số người chết thống kê được đã lên đến gần 80 ngàn, số người mất tích là hơn 20 ngàn, số người bị thương là hơn 350 ngàn. Số người bị mất nhà cửa đang phải sống trong các lều bạt tạm bợ lên đến 4-5 triệu người. Có đến 5000 trẻ em mồ côi vì mất cả cha lẫn mẹ... Trận động đất đã gây tổn thất về kinh tế ước tính lên đến 122 tỷ USD, làm nhiều triệu nông dân lâm vào cảnh khốn khó. Để khắc phục hậu quả, Trung Quốc dự tính sẽ đầu tư khoảng 147 tỷ USD cho việc tái thiết các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề bởi trận động đất . Động đất cũng làm ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất và kinh doanh, đặc biệt là với các ngành dầu khí, than... Được biết Tứ Xuyên hiện chiếm khoảng 4% tổng sản lượng than sản xuất ở Trung Quốc. Sau trận động đất kinh hoàng này, báo chí Trung Quốc đã nêu một số điểm nóng trong dư luận bàn về vấn đề này.

Một là, có hay không chuyện gian lận trong xây dựng trường lớp cho học sinh. Tại sao chỉ có các ngôi trường học bị đổ do dư trấn trong khi nhiều ngôi nhà lân cận vẫn đứng vững. Hai là, công tác cảnh báo động đất đã làm tốt hay chưa. Trước khi xảy ra động đất, được biết có rất nhiều hiện tượng lạ ở nhiều địa phương lân cận. Chẳng hạn, ba tuần trước khi xảy ra động đất, một lượng nước lớn trong một hồ ở tỉnh Hồ Bắc - cách tâm trấn động đất khoảng 550 km, đã biến mất trong vài giờ. Ba ngày trước động đất, hàng ngàn con cóc nhảy ra một đường phố ở Miên Dương, nơi chịu ảnh hưởng nặng của động đất. Ở Vũ Hán, cách phía đông tâm chấn gần 1000 km, tờ Vũ Hán buổi tối cho biết, vào đúng ngày động đất xảy ra, có hiện tượng nhiều con ngựa vằn tự nhiên lao đầu vào cửa vườn thú... Tờ China Daily và rất nhiều báo địa phương Trung Quốc đã nêu vấn đề để các nhà khoa học xem xét rút kinh nghiệm có thể đưa ra cơ chế cảnh báo sớm, ngăn chặn thiết hạiSau trận động đất, Trung Quốc đã nhận được nhiều tỷ USD cứu trợ từ hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều này cũng cho thấy tình cảm và sự nhiệt tình của cộng đồng quốc tế đối với Trung Quốc.

Liên quan đến ảnh hưởng thiên nhiên, nhớ lại là hồi tháng 1 đầu năm, do thời tiết giá lạnh, băng tuyết nhiều, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đồng thời cản trở giao thông, làm nhiều người không về quê ăn tết được, bị kẹt trong các nhà ga. Ước tính có khoảng 16 triệu người bị ảnh hưởng. Thiệt hại ước tính khoảng 1 tỷ USD. Đến ngày 10/2 về cơ bản mới khôi phục được tình hình.

Thứ hai, liên quan đến xử lý ô nhiễm môi trường phục vụ Olimpic Bắc Kinh 2008. Trước khi diễn ra Olimpic Bắc Kinh 2008, dư luận quốc tế cho rằng môi trường ô nhiễm (sương mù, khói bụi...) ảnh hưởng đến chất lượng thi đấu của một số môn trong chương trình Đại Hội. Để hạn chế ô nhiễm, trước và trong thời gian diễn ra Olimpic, Bắc Kinh thực hiện cắt giảm một nửa số xe lưu thông trên đường phố và đóng cửa nhiều nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường. Từ 20/7 đến 20/9/2008, Trung Quốc quyết định cứ 1 ngày cho xe có biển số lẻ chạy, lại 1 ngày cho xe có biển số chẵn chạy. Như vậy mỗi ngày khoảng 3,3 triệu xe không được tham gia lưu thông ở Bắc Kinh. Đã có 300.000 xe tải gây ô nhiễm nặng đã bị cấm lưu hành kể từ ngày 1/7/2008. Các tài xế vi phạm sẽ bị phạt số tiền tương đương 14 USDViệc đóng cửa tạm thời nhiều nhá máy, việc hạn chế lưu lượng xe cộ lưu thông cũng là một nhân tố kiềm chế tăng trưởng ở Trung Quốc.

Đến giữa năm 2008, Theo Cục Lâm nghiệp Trung Quốc, tỷ lệ phủ xanh của các thành phố Trung Quốc đạt 36%. Riêng tỷ lệ phủ xanh của các khu vực trung tâm thành phố Bắc Kinh đạt 43%, đứng đầu các thành phố ở Trung Quốc. Trong hàng loạt các mục tiêu xây dựng môi trường sinh thái tốt cũng như để đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, Trung Quốc đưa ra mục tiêu nâng tỷ lệ thảm rừng lên 20% vào năm 2010, nâng tỷ lệ phủ rừng lên trên 26% trong cả nước vào năm 2050.

Về việc tấn công khủng bố liên quan đến Olimpic. Sau nhiều năm tiến hành các hoạt động khủng bố ở nhiều nơi trên thế giới, năm 2008 cũng đánh dấu sự hiện diện rõ ràng của chủ nghĩa khủng bố ở Trung Quốc. Theo các tài liệu được Trung Quốc công bố, các thế lực khủng bố ở nước này bao gồm: chủ nghĩa phân biệt, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan đã và đang thực hiện nhiều âm mưu thủ đoạn kể cả dùng bạo lực để ngăn chặn, phá hoại và chia cắt, làm suy yếu Trung Quốc về kinh tế, làm suy giảm ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc về chính trị.

Tháng1/2008, công an Tân Cương đã phá vụ tập kích khủng bố với âm mưu gây vụ nổ, bắt 10 phần tử khủng bố thuộc tổ chức “Phong trào hồi giáo Đông Turkestan” hoạt động ở nước ngoài. Lực lượng này vốn đã có kế hoạch tấn công khủng bố ở Trung Quốc từ cuối năm 2007. Ngày 21/7/2008 đã liên tiếp xảy ra 2 vụ đánh bom xe khách ở Côn Minh - Vân Nam làm 2 người chết và 14 người bị thương. Ngay sau đó là vụ tấn công nhằm vào lực lượng biên phòng ở Thành phố Kashi thuộc Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ (Tân Cương) làm 16 lính biên phòng Trung Quốc chết và 16 binh sỹ khác bị thương. Sáng ngày 10/8, cũng tại Tân Cương, nhiều vụ nổ làm rung chuyển khu tự trị Duy Ngô Nhĩ làm 8 người chết và 4 người bị thương. Tại thị trấn Cuca, cách thủ phủ Urumqi  của Tân Cương 740 km, nơi có khoảng 400.000 dân mà đa số là người theo đạo Hồi, có vụ thủ phạm lao xe tắc xi vào toà nhà văn phòng của chính quyền địa phương, cho nổ vật nổ tự tạo, phá huỷ nhiều nhà và xe cảnh sát. Sau khi điều tra, cảnh sát còn phát hiện 12 quả bom khác ở thị trấn này. Đối phó với tình trạng trên, Trung Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động chống khủng bố. đó là các cuộc diễn tập chống khủng bố “Đột kích 2007” và “Đột kích 2008” vào cuối tháng 7/2007 và tháng 8/2008, trong sự phối hợp với Thái Lan tại Quảng Châu (2007) và tại Chiềng Mai - Thái Lan (2008).

Thứ ba, Về vụ sữa bẩn do bị nhiễm Melamine. Năm 2008, Trung Quốc được nhiều nước biết đến vì đã đưa ra thị trường (nội địa và quốc tế) sữa bẩn do bị nhiễm Melamine. Bắt đầu từ tháng 12/2007, Tập đoàn Tam Lộc (đóng tại TP Thạch Gia Trang) nhận đuợc nhiều than phiền của người tiêu dùng về việc nhiều trẻ em bị ốm sau khi uống sữa của tập đoàn này, đến giữa tháng 9/2008 khi Trung Quốc công bố kết quả kiểm tra sữa do 3 công ty sữa hàng đầu Trung Quốc sản xuất có nhiễm độc, thì vấn đề đã trở nên trầm trọng.

Đến cuối tháng 9.2008, đã có gần 53.000 trẻ em Trung Quốc bị ốm ở các mức độ khác nhau do dùng các sản phẩm sữa bẩn. Trong số này đã có nhiều trẻ em tử vong, hàng trăm em ở trong tình trạng nguy kịch. Cần lưú ý rằng đây không phải là lần đầu tiên điều này diễn ra ở Trung Quốc. Năm 2004, tập trung tại TP Phúc Dương tỉnh An Huy Trung Quốc, có hơn 10 trẻ em bị chết vì suy dinh dưỡng do uống phải sữa bột giả, gần 200 em bị mắc chứng bệnh đầu to.

Vụ việc dẫn đến làn sóng mạnh mẽ về thu hồi sữa Trung Quốc ở nước ngoài (Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan...), một số nước còn tiến hành tịch thu, hoặc kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc (Myanma). Sự việc đã một lần nữa cảnh báo về những yếu kém trong quản lý chất lượng thực phẩm ở Trung Quốc. Đồng thời, điều này một mặt làm khó khăn cho ngành chăn nuôi lấy sữa, mặt khác làm giảm uy tín hàng Trung Quốc trên thị trường thế giới.

Thứ tư, Trung Quốc trước tác động của Khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Kinh tế Trung Quốc chịu tác động của Khủng hoảng toàn cầu chủ yếu thông qua ảnh hưởng của xuất khẩu, do đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc suy giảm và do thị trường địa ốc suy yếu. Xuất khẩu giảm làm cho sản xuất công nghiệp giảm. Nhu cầu xây dựng nói chung giảm do thị trường địa ốc trầm lắng. Thứ nhất, về xuất khẩu. Mỹ là một thị trường xuất khẩu quan trọng của Trung Quốc. Từ năm 1999 đến năm 2001, xuất khẩu sang Mỹ trung bình chiếm 8-9% GDP của Trung Quốc. Tuy nhiên từ năm 2003 trở đi tỷ lệ này là trên 10%. Trong các năm 2004, 2005, tỷ lệ này lên gần 11% (Tính theo số liệu của phía Mỹ. Còn theo số liệu của Trung Quốc thì con số thấp hơn. Xem thêm bảng dưới đây).


Bảng 1: Xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ

và tỷ lệ so với GDP của Trung Quốc 1998-2007.

(Số liệu của phía Mỹ, Tỷ USD)

Năm

Xuất khẩu của TQ sang Mỹ

% GDP của TQ

2007

321,442.9

9,5

2006

287,774.4

10,6

2005

243,470.1

10,8

2004

196,682.0

10,7

2003

152,436.1

10,78

2002

125,192.6

9,8

2001

102,278.4

8,8

2000

81,788.2

 

1999

81,788.2

8,19

 

 

Xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ chiếm đến 22% tổng xuất khẩu của Trung Quốc. Tỷ lệ này với nhật Bản và EU là 38%. Như vậy tổng xuất khẩu của Trung Quốc sang các thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản lên đến 60% tổng xuất khẩu của Trung Quốc. Chính vì vậy, kinh tế Mỹ suy giảm kéo theo sự suy giảm của EU, Nhật Bản khiến nhu cầu nhập khẩu giảm làm giảm xuất khẩu của Trung Quốc. Theo ước tính của Bộ Thương mại Trung Quốc, số tiền mà các doanh nghiệp Mỹ không thanh toán được cho các doanh nghiệp Trung Quốc theo đơn hàng đã đặt trong nửa đầu năm 2008 lên đến 100 tỷ USD. Thiệt hại liên quan đến nhiều ngành, từ quần áo, đồ gia dụng đến xây dựng. Chính vì vậy mà trong nửa sau của năm, nếu các đơn đặt hàng cao hơn mức 14.000 thì các doanh nghiệp Trung Quốc phải tìm hiểu rất kỹ về lịch sử công ty và thị trường họ sẽ xuất hàng sang.  Sau nhiều năm tăng trưởng xuất khẩu liên tục duy trì mức trên 20% thì trong năm 2008, mức tăng xuất khẩu của Trung Quốc có thể chỉ ở mức 10%. Và theo dự báo, mức tăng xuất khẩu của Trung Quốc năm 2009 có thể thấp hơn, không loại trừ khả năng tăng trưởng âm.

Về đầu tư nước ngoài, trong vòng 15 năm trở lại đây, Trung Quốc được liệt vào danh sách các thị trường thu hút FDI hấp dẫn nhất thế giới. Từ năm 2002 đến năm 2004, các nhà đầu tư thế giới liên tục coi Trung Quốc là địa điểm đầu tư số 1 của họ - xét về tiêu chí thị trường hấp dẫn nhất. Cho đến nay, đầu tư nước ngoài vẫn được xem là một động lực quan trọng cho tăng trưởng ở Trung Quốc. Từ năm 2001 đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Trung Quốc là: Hồng Kông, Đảo Virgin, Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, Singapore, Đài Loan và CHLB Đức. Năm 2005, các nền kinh tế này chiếm đến hơn 77% tổng FDI vào Trung Quốc. Đặc biệt từ năm 2004, đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc tăng rất nhanh (xem bảng dưới). Khủng hoảng toàn cầu đã làm ảnh hưởng đến kinh tế cũng như khả năng cung ứng FDI nói chung của các nền kinh tế kể trên, do vậy FDI vào Trung Quốc cũng suy giảm.

 

 

Bảng 2: Đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc 1997-2006

Đơn vị: tỷ USD

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

5,150

6,350

9,401

11,140

11,387

10,294

11,877

15,430

17,033

22,228

Nguồn: U.S. Department of Commerce




Vậy khả năng của Trung Quốc trước cơn bão khủng hoảng toàn cầu là như thế nào? Có hai loại ý kiến.

Thứ nhất, là khả năng ứng phó với khủng hoảng toàn cầu của Trung Quốc không cao. Theo quan nhóm điểm này, tính đến tháng 10.2008 tuy Trung Quốc có gần 2000 tỷ USD dự trữ ngoại tệ nhưng khoảng 1000 tỷ USD đã được dùng để mua các khoản nợ chính phủ của các nước phương Tây, trong đó hơn 500 tỷ USD mua các khoản nợ chính phủ và các cơ quan chính phủ Mỹ, Trung Quốc chỉ có 600 tấn vàng dự trữ (tương đương 17 tỷ USD - bằng gần 10% số của Mỹ). Trung Quốc cũng có đến 22 ngàn tỷ NDT tiền gửi tiết kiệm của cư dân (tương đuơng gần 3200 tỷ USD), tuy nhiên, tính theo đầu người con số còn khiêm tốn, chỉ đạt 17000 NDT/ người (tương đương 2460 USD). Mặt khác, cuối năm 2007, vẫn còn 14,8 triệu người Trung Quốc sống trong điều kiện bần cùng tuyệt đối với thu nhập 785 NDT/năm (113 USD), số người có có thu nhập thấp (1067 NDT/năm) là 28,4 triệu người.

Thứ hai, các giới lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nước này hoàn toàn đủ khả năng ứng phó với tác động từ bên ngoài và nền kinh tế Trung Quốc vẫn duy trì mức tăng trưởng cao trong năm 2008. Theo ông Thống đốc Ngân hàng Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên, nền kinh tế Trung Quốc đủ mạnh để vượt lên con bão khủng hoàng toàn cầu. Rằng tiêu dùng trong nước sẽ giúp Trung Quốc bù đắp nhu cầu sụp giảm ở nước ngoài về hàng hóa của nước này. Ngân hàng trung ương Trung Quốc (POC) đã và sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng và linh hoạt để khắc phục những khó khăn trước mắt. Đó là tình trạng rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng xuất khẩu đã sản xuất cầm chừng hoặc ngừng sản xuất. Trong khi mức tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp lớn và vừa sụp giảm mạnh.

Ở Trung Quốc 80% việc làm phụ thuộc vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thành phố Ôn Châu (tỉnh Triết Giang), nơi kinh tế tư nhân phát triển nhất, là hình mẫu cho các nơi khác ở Trung Quốc, một điển hình phát triển thủ công nghiệp ở vùng duyên hải Đông Nam Trung Quốc. Vậy mà trong 6 tháng đầu năm 2008, gần 10% các nhà máy sản xuất giày ở đây đã phải đóng cửa - một điều chưa từng thấy. Từ đầu năm đến tháng 10.2008, các doanh nghiệp chế tạo sử dụng nhiều lao động trong các lĩnh vực sản xuất giày, bật lửa, kính, quần áo… đều đang trong tình trạng rầu rĩ, thoi thóp, sống dở chết dở. Cuối tháng 3.2008, Giám đốc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ôn Châu Zhou Dewen, trong trả lời phỏng vấn truyền hình Trung ương cho biết, gần 20% các doanh nghiệp Ôn Châu đã ngừng hoặc giảm 50% hoạt độngCho đến tháng 10.2008, các doanh nghiệp trước đây chưa bao giờ thiếu tiền mặt thì bây giờ cũng lâm vào khó khăn. Lợi dụng tình trạng này, một số chủ đầu tư phát lên nhờ hoạt động tín dụng lén lút, cho vay nặng lãi với mức từ 1,5 đến 3% tháng. Cuối tháng 10.2008, có từ 9000 đến 45000 xí nghiệp, nhà máy trong vùng Quảng Châu, Đông Quản, Thâm Quyến ở phía nam Trung Quốc lâm vào cảnh khó khăn, phải đóng cửa và ít nhất hơn 2 triệu người mất việc làmỞ phía Nam Thượng Hải, có 6 vụ phá sản lớn, trong đó có các tập đoàn như: Tập đoàn chế tạo máy khâu, tập đoàn Jianglong, Feiyue Group tập đoàn Zhejiang Yixin Phamarceutical Co. - một trong những tập đoàn dược phẩm lớn nhất Trung Quốc. Bốn trong 6 chủ doanh nghiệp/ tập đoàn này bỏ trốn, một người tự sát và một người bị bắt. Theo đánh giá, các công ty sản xuất đồ chơi, may mặc... bị thiệt hại nhiều nhất. Đến tháng 11.2008, có hơn 3600 nhà máy sản xuất đồ chơi, hầu hết là các nhà máy nhỏ, tương đương một nửa số doanh nghiệp sản xuất đồ chơi ở Trung Quốc đã bị đóng cửa. Một tháng trước đó, đã có 3 nhà máy thuộc tập đoàn Smart Union Group phải ngừng hoạt động khiến cho gần 9000 công nhân bị mất việc. Theo tờ Los Angeles Times 3/11/2008, trong nửa đầu năm 2008 có 67000 nhà máy các loại ở Trung Quốc bị đóng cửa, con số ước tính trong cả năm 2008 có thể lên đến 100.000. Hiện tượng nhiều nhà máy bị đóng cửa, các khoản nợ chồng chất, nhiều chủ doanh nghiệp bỏ trốn đã để lại một số lượng không nhỏ công nhân không được trả lương là nguy cơ gây bất ổn định. Được biết, trước khi nổ ra Khủng hoảng, các nhà máy, doanh nghiệp Trung Quốc đã phải chịu sức ép lớn về chi phí lao động tăng, giá nguyên vật liệu cao do đồng NDT tăng giá.

Vậy Chính phủ Trung Quốc hành động gìKhủng hoảng toàn cầu tác động tiêu cực đến kinh tế Trung Quốc nhưng giải pháp của Chính phủ lại có tác động tích cực đến tăng trưởng ở nước này. Ở Trung Quốc từ nhiều năm nay, đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu vẫn là 3 động lực chính thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Khác với các nền kinh tế quy mô nhỏ khác, Trung Quốc có thị trường nội địa khổng lồ và họ cho rằng đây là phao cứu sinh quan trọng mỗi khi thị trường thế giới có biến động, bị trì trệ. Chính vì vậy, như Thống đốc Ngân hàng trung ương Trung Quốc, Chu Tiểu Xuyên đã nói, thúc đẩy tiêu dùng trong nước là cách tốt nhất để Trung Quốc tự cứu mình và giúp cho nền kinh tế thế giới giảm bớt nguy cơ lâm vào đợt suy thoái kéo dài.

Đáng chú ý nhất là ngày 9/11 Chính phủ Trung Quốc đã thông qua kế hoạch gói kích thích kinh tế 4000 tỷ NDT, tương đương 586 tỷ USD. Đây là một kế hoạch kích thích phát triển kinh tế lớn nhất từ trước đến nay được thực hiện ở Trung Quốc. Số tiền khổng lồ này sẽ được sử dụng trong 2 năm đến năm 2010. Trong đó khoảng 100 tỷ NDT (tương đương 14,5 tỷ USD) được sử dụng trong quý 4 năm 2008. Ngày 15/11/2008, Bộ Nhà ở và Kiến thiết thành thị - nông thôn Trung Quốc (MOHURD) cho biết, Chính phủ Trung Quốc có kế hoạch đầu tư 900 tỷ NDT (tương đuơng 132 tỷ USD) trong 3 năm tới để xây nhà cho cư dân có thu nhập thấp. Được biết, trong số này có 100 tỷ NDT đề cập ở trên. Và số tiền này phải giải ngân trước tháng 3/2009. Theo kế hoạch, MOHURD sẽ xây dựng hơn 2 triệu căn hộ cho thuê giá rẻ, 4 triệu ngôi nhà có giá mức trung bình và sửa chữa lại nhà ở cho 2,2 triệu người đang sống tại các khu nhà ổ chuột tại các khu khai thác mỏ, các nông trang.

Phần lớn số tiền 4000 tỷ NDT này để thực hiện những chương trình trong 10 lĩnh vực như: xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp,  phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, mở rộng mạng lưới giao thông vận tải, phát triển y tế giáo dục, tăng cường bảo vệ môi trường, đổi mới công nghệ... tái thiết các vùng bị tàn phá do thiên tai mà trước hết là các khu vực chịu tác động mạnh của trận động đất vừa qua ở Tứ Xuyên và các vùng lân cận thuộc hai tỉnh Cam Túc và Thiển Tây.

Chương trình kích thích kinh tế trọn gói 4000 tỷ NDT tương đương 1/6 GDP của Trung Quốc theo đánh giá là một giải pháp mạnh thể hiện hành động linh hoạt, quyết định dứt khoát và nhanh chóng của Chính phủ Trung Quốc trước tình hình mới. Điều này cũng cho thấy Trung Quốc quyết đoán nhiều hơn so với Mỹ, mạnh mẽ hơn so với Mỹ bởi Mỹ với GDP trên 14 ngàn tỷ USD nhưng mới quyết định tung 700 tỷ USD vào thị trường, trong khi GDP của Trung Quốc chỉ khoảng 3600 tỷ nhưng tung vào thị trường tới gần 600 tỷ USD.

Các hành động đối phó Khủng hoảng của Chính phủ Trung Quốc có thể chia thành 3 nhóm biện pháp.

Thứ nhất, chương trình đầu tư công cộng, xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng trong đó có phát triển quỹ nhà ở cho người có thu nhập trung bình và thấp; hiện đại hoá giao thông, xây dựng mạng lưới đường sắt, đường bộ, xây dựng các sân bay ở các tỉnh phía Tây, tái thiết Tứ Xuyên sau động đất... Được biết Trung Quốc đã đưa ra kế hoạch phát triển mạng lưới đường sắt giai đoạn 2004-2020. Chính phủ Trung Quốc đã phê duyệt kế hoạch đầu tư 2000 tỷ NDT (tương đuơng 292 tỷ USD) cho phát triển hệ thống đường sắt trung hạn và dài hạn. Cho đến nay khoảng 1200 tỷ NDT đã được đưa vào nhiều công trình đường sắt đã và đang xây dựng. Tình hình hiện nay khiến cho các cơ hội đầu tư tăng lên và con số vốn chi cho xây dựng đường sắt có thể vượt mức 2000 tỷ NDT. Theo dự báo của công ty chứng khoán Shenying & Wanguo, các năm 2008-2010 sẽ là thời kỳ cao điểm cho các khoản đầu tư vào lĩnh vực đường sắt với số tiền đầu tư tương ứng sẽ là khoảng  244 tỷ NDT cho năm 2008, 341 tỷ NDT cho năm 2009 và 333 tỷ NDT cho năm 2010. Có như vậy thì đến năm 2010 Trung Quốc mới có thể có tổng chiều dài đường sắt 161.000 km so với mức 125.000 của năm 2007.

Thứ hai, hướng tới cải thiện hệ thống an sinh xã hội, phát triển giáo dục, y tế, tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho những người có hoàn cảnh khó khăn như tăng trợ cấp cho nông dân, nâng giá bán nông sản... Uỷ ban cải cách và phát triển quốc gia Trung Quốc (NDRC) đã công bố kế hoạch an ninh lương thực trung và dài hạn với mục tiêu đến năm 2010 duy trì sản lượng lương thực ở mức tối thiểu 500 triệu tấn/ năm, và phải duy trì tối thiểu 105,3 triệu ha đất trồng cây lương thực và đảm bảo cung cấp trên 95% nhu cầu lương thực cả nước trong vòng 12 năm (đến năm 2020). Bắt đầu tư năm 2009, Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh giá mua lúa mì tối thiểu cho nông dân .

Bắt đầu từ năm học 2008-2009, Trung Quốc thực hiện miễn toàn bộ học phí cho chương trình 9 năm giáo dục phổ cập (tiểu học và trung học cơ sở). Như vậy, số học sinh đang theo học đựoc miễn học phí lên đến 28,21 triệu. Tại khu vực thành thị, trừ những trường học có hoàn cảnh khó khăn, học sinh vẫn phải trả tiền mua sách giáo khoa và đồng phục.

Thứ ba, là nhóm các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp như: nâng mức hoàn thuế xuất khẩu, hỗ trợ nghiên cứu thúc đẩy phát triển công nghệ mới. Trung Quốc đã nâng mức hoàn thuế xuất khẩu đối với 3486 sản phẩm (1/4 danh mục hàng xuất khẩu bị đánh thuế). Chẳng hạn mức hoàn thuế xuất khẩu đối với đồ chơi, hàng dệt may tăng từ các mức 11% và 13% lên mức 14%. Các hàng hoá khác được hưởng mức hoàn thuế xuất khẩu từ  9 đến 13%Để ổn định nguồn cung đầu vào cho sản xuất trong nước, từ ngày 20/8/2008, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với nhóm hàng hợp kim, than cốc và than. Theo đó sẽ áp dụng mức thuế xuất khẩu tạm thời đối với phương thức thương mại thông thường với mức thuế xuất khẩu tạm thời là 15%. Tăng thuế xuất khẩu tạm thời đối với than cốc từ 25% lên 40%; với than luyện cốc từ 5% lên 10%, thuế xuất khẩu tạm thời đối với than khói khác là 10%.  Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc còn quyết định cắt giảm thuế cho các công ty khi mua tài sản cố định như các loại máy móc, thiết bị nhằm kích thích tăng đầu tư. Theo ước tính riêng khoản cắt giảm thuế này giúp các công ty giảm được chừng 120 tỷ NDT chi phí. Ngoài ra để khuyến khích đầu tư nhiều hơn cho phát triển, Trung Quốc còn bỏ hạn ngạch cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ, tăng trợ giá cho nông dân.

Cần biết là hiện nay mỗi năm Trung Quốc có khoảng 24 triệu người gia nhập thị trường lao động, cộng với số 12- 14 triệu nông dân hàng năm vào làm việc trong các lĩnh vực gia công chế biến... con số lên đến gần 40 triệu. Theo nhận định do nhu cầu xuất khẩu giảm, muốn giảm sức ép thất nghiệp, Trung Quốc không còn cách nào khác phải tăng đầu tư, kích cầu nội địa để duy trì mức tăng trưởng từ 9 đến 10%. Nếu không duy trì được mức tăng như vậy, có thể sẽ nảy sinh nhiều vấn đề xã hội. Chính vì vậy, Trung ương Trung Quốc yêu cầu chính quyền các địa phương  thực hiện phương châm 16 chữ “Ra tay mạnh bạo, ra đòn nặng nề, biện pháp phải đúng, công việc thực tế” để đảm bảo duy trì mức phát triển kinh tế cao. Ra tay, ra đòn ở đây đuợc hiểu là các biện pháp mạnh để đối phó với các nhiệm, vụ các thách thức đặt ra.

Triển vọng:

Năm 2009, các chính sách của Chính phủ Trung Quốc sẽ tập trung vào những vấn đề chính như: đấu tranh chống tham nhũng, cải cách chế độ đất đai, tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Do triển vọng của thị trường thế giới vẫn ảm đạm tác động đến xuất khẩu và trì trệ về đầu tư, mức tăng GDP của Trung Quốc năm 2009 dự báo chỉ đạt 8%, lạm phát sẽ thấp hơn và duy trì ở mức 3,8% trong khi thặng dư tài khoản vãng lai có thấp hơnnhưng vẫn đạt khoảng 7,5% GDP năm 2009 và 5,8% GDP năm 2010./.

 

TS. PHẠM THÁI QUỐC

(Viện Kinh tế và Chính trị thế giới)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ADB: 10% growth for China's economy in 2008.

http://www.chinaeconomicreview.com/dailybriefing/2008_04_03/ADB:_10_growth_for_Chinas_economy_in_2008.html

2. Thời báo Kinh tế VN 17/11/2008.

www.chinaview.cn

3. Báo cáo của các Ô. Trung Khởi Quyền, Vi Khắc Nghĩa, Cổ Tiểu Tùng về Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây tại Viện KHXH 3/4/2008.

4. Thời báo Ngân Hàng số 12.7.2008

5. Tin kinh tế 26/8/2008

6. Trung Quốc tốn 147 tỷ USD tái thiết động đất,

http://vn.news.yahoo.com/vne/20080815/twl-trung-quoc-ton-147-ty-usd-tai-thiet-79585cb.html

7. Những dấu hiệu lạ trước trận độnng đất kinh hoàng ở Trung Quốc,

htp://dantri.com. vn/ Thegioi /hung-dau-hieu-la-truoc-tran-dong-dat-kinh-hoang-o-Trung-Quoc/2008/5/232625.vip

8. Báo Đại đoàn kết 21/7/2008

9. Hà Nội mới 11/8/2008

10. Báo Le Courrier International 28/10/2008, TKĐB 5.11.2008

11. Đài RFI 10/11, tin kinh tế 12/11/2008

12. Kiều OanhTrung Quốc công bố “đại kế hoạch” kích thích kinh tếhttp://vneconomy.vn/2008111011331349P0C99/trung-quoc-cong-bo-dai-ke-hoach-kich-thich-kinh-te.htm

13. Thời báo Kinh tế VN 17/11/2008

14. Thời báo Kinh tế VN 17/11/2008

15. Thời báo tài chính 5/9/2008

16. Tân Hoa xã 23/10/2008

17.Forecast , http://www.economist.com/countries/CHINA/profile.cfm?folder=Profile-Forecast, Oct 30th 2008, From the Economist Intelligence Unit Source: Country Forecast