Thứ Ba, 5 tháng 2, 2019

Đắng lòng câu chuyện giá rẻ - viết lúc xuân Kỷ Hợi sáng mùng 1 Tết

Tôi có ham rẻ không?
Thật sự là có, giống như bao người tôi vẫn thường chọn mua hàng giá rẻ.
Mặc dù tôi cố gắng không mua hàng "made in China", nhưng nhiều khi sự cố gắng của riêng mình tôi là không thể.
Tuy nhiên hôm nay tôi không viết về "made in China".
Có lần tôi bay Bắc - Nam bằng Vietjet, theo thời gian trên vé, 5 giờ chiều tôi có mặt ở sân bay Sài Gòn nhưng 1 giờ đêm tôi mới về tới sân bay Cát Bi. Nhiều người bị như tôi chứ không phải mình tôi. Thôi thông cảm kinh doanh họ buộc phải làm vậy.

Khi mua hàng ở Nhật, nếu có hàng "made in Japan" tôi sẽ chọn mua nó trước, tôi không quan tâm giá, mặc dù tôi biết nó thường đắt gấp 2 đến 3 lần hàng hóa cùng loại. Tuy nhiên, nhiều khi bạn muốn trả tiền đắt nhưng cũng không có để mua.

Tại sao nhiều khi chúng ta mua đồ chỉ vì nó rẻ?
Việc chúng ta dễ dãi với bản thân để dùng hàng rẻ tiền chúng ta nghĩ là quyền tự do lựa chọn, nhưng suy nghĩ thật lâu thì ta thấy đó lại là một việc có hại. Bởi vì để rẻ tiền thì nó sẽ phải kèm theo một loạt các vấn đề khác như:
1/ Chất lượng sẽ kém hơn (không dễ nhận thấy). Nếu những thứ nhỏ vớ vẩn thì thật khó để phân biệt chất lượng. Nhưng chỉ cần bắt đầu từ những thứ cần tinh vi chút thì sẽ thấy ngay. Ví dụ là cái vòng bi. Bạn có thể biết ngay trình độ công nghệ của quốc gia qua việc xem xét sự hoạt động của cái vòng bi do quốc gia đó sản xuất.
2/ Tàn phá môi trường: Nếu bạn dùng hàng rẻ tiền đồng nghĩa với việc bạn tiếp tay cho việc tàn phá môi trường. Lấy ví dụ về Formosa Hà Tĩnh. Nếu Formosa Hà Tĩnh làm ăn đàng hoàng tử tế thì nó phải xử lý chất thải và khí thải đến mức an toàn cho tất cả. Chi phí cho việc xử lý đó đương nhiên phải tính vào giá thành sản phẩm. Nhưng vì muốn bán hàng rẻ nên nó bỏ qua tất cả những việc "bảo vệ môi trường". Nó chỉ quan tâm đến tiền không quan tâm chuyện sống chết quanh nó.
3/ 



https://vnexpress.net/goc-nhin/mot-viet-nam-gia-re-3874647.html



Một Việt Nam 'giá rẻ'

Thứ hai, 28/1/2019, 04:27 (GMT+7)  86 Lưu

Trong những bình luận và tin tức từ Diễn đàn kinh tế thế giới Davos, tôi lấn bấn mãi vì ý kiến cho rằng Việt Nam đang hấp dẫn các công ty rút chân khỏi Trung Quốc hơn bảy nền kinh tế mới nổi châu Á khác, vì “rẻ” ở chi phí nhân công và giá điện.
Đóng góp vào tăng trưởng, đóng thuế, tạo ra cơ hội việc làm cho lao động địa phương được coi là thành tích thu hút đầu tư nước ngoài nhiều năm qua. Thành tích đó đạt được nhờ "lợi thế giá rẻ" mà Việt Nam bấy lâu đem đi quảng bá khắp nơi để thu hút đầu tư. 
Nhưng thực sự, có nhiều điều không ổn. Và đã đến lúc ngừng cho rằng giá rẻ là lợi thế của quốc gia. 
Ba năm trước, tôi đã khảo sát một nhà máy chế biến cá hồi do người Nga đầu tư tại Long An. Quy trình sản xuất của doanh nghiệp rất đơn giản: nhập cá hồi từ Nga, chế biến thành cá hồi phi lê, đóng gói, đông lạnh, rồi xuất khẩu toàn bộ sang châu Âu.
Trung bình, để chế biến một tấn sản phẩm cá hồi, họ cần 20 mét khối nước sạch và cũng thải ra một lượng nước thải tương đương với nhiều chất ô nhiễm hữu cơ, phát sinh khoảng 800 kilogram chất thải rắn dễ lên men thối rữa như nội tạng, xương, vây, vảy, cùng khí thải và mùi hôi tanh khó lẫn.
Nhìn hàng trăm công nhân bịt kín người trừ đôi mắt, lặng lẽ đưa tay qua lại chỉ một số động tác nhiều giờ một ngày, trong môi trường lạnh ngắt, tôi ái ngại. Tôi thậm chí không dám mở lời hỏi một ai, vì sợ phá vỡ trật tự cứng rắn dường như không chấp nhận tiếng người.
"Sao các anh không chế biến tại Nga hoặc châu Âu để trực tiếp phục vụ thị trường của mình mà phải nhọc công đi đường vòng xa như vậy?", đáp lại tôi, chủ doanh nghiệp nói, "Đặt nhà máy ở Việt Nam vẫn tạo ra lợi nhuận cao hơn vì ở đây chi phí sản xuất, nhất là giá lao động khá rẻ".
Mặc dù đánh giá cao sự thật thà của ông, chúng tôi quyết định không hỗ trợ doanh nghiệp này vì không muốn tiếp tay cho những doanh nghiệp tương tự vào Việt Nam. Những hoạt động gia công - chế biến đơn sơ hầu như không tạo ra giá trị gia tăng thật sự, và cơ hội tham gia của các đối tác Việt Nam trong chuỗi cung ứng gần như không có.
Có hàng nghìn doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam với mô hình tương tự công ty chế biến cá hồi kia và đang được tính vào "thành tích" thu hút đầu tư. Họ là những cỗ máy sử dụng tài nguyên được cho là rẻ của chúng ta, bao gồm tài nguyên nhân lực, tài nguyên năng lượng, tài nguyên nước, tài nguyên không khí và tài nguyên đất.
Yếu tố "rẻ" như nhiều khảo sát trên toàn cầu, thường đi kèm với việc sử dụng lãng phí, kém hiệu quả và dẫn đến suy thoái, suy kiệt tài nguyên. Họ cũng để lại cho Việt Nam một gánh nặng môi trường với các loại chất thải rắn, lỏng, khí có thể chưa được xử lý phù hợp cũng như một quốc gia đối diện nguy cơ suy kiệt nguồn nước sạch, đội ngũ lao động kỹ năng thấp. 
Nếu đặt những lợi ích kinh tế thu được và những thiệt hại vô hình về môi trường, xã hội  trong một bài toán tổng thể suốt chu kỳ đầu tư 50 năm của một doanh nghiệp, liệu có nhà quản lý quốc gia nào dám khẳng định giá rẻ là một mô hình bền vững
Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc (WCED) định nghĩa: "Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai". Khái niệm này từ lâu được xem là kim chỉ nam cho các quốc gia trên con đường tạo dựng sự thịnh vượng bằng công thức kết hợp chặt chẽ ba chân kiềng: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, còn có một hệ quả tương đồng rõ rệt giữa mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu tài nguyên thô và "lợi thế giá rẻ" - hai điểm đặc trưng của kinh tế Việt Nam - và nó đang "làm tổn hại khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai".
Việt Nam đã phải nhập than đá từ vài năm qua sau hơn 120 năm miệt mài xuất khẩu. Các mỏ đầu đang có dấu hiệu cạn kiệt. Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học tiếp tục mất đi. Những núi rác ngày một cao lên. Chất lượng môi trường nước, môi trường không khí ngày càng xấu đi nghiêm trọng. Có vị lãnh đạo nào đang tự hỏi, chúng ta đang để lại gì cho thế hệ tương lai?
Với nhân công giá rẻ, giá trị thặng dư nào cho họ tái đầu tư sức lao động của chính họ, cũng như để có "của để dành" cho tương lai? Hãy đến những khu nhà trọ công nhân gần các khu công nghiệp để thấy ý nghĩa của cụm từ "tạo ra việc làm" chỉ đơn giản dừng lại ở mức đáp ứng nhu cầu rất cơ bản của con người: có cơm ăn, áo mặc. Các chương trình văn hóa, giáo dục, y tế, giải trí cho những lao động giá rẻ và gia đình họ, trong đó có thế hệ tương lai, vẫn là điều xa xỉ. Làm sao ta tạo ra thế hệ tương lai có giá trị tri thức hơn cha mẹ chúng trên nền tảng sống nghèo nàn mà cha mẹ họ đang "thụ hưởng"?
Tại Davos tuần qua, báo cáo đặc biệt có tên "Báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 4.0" đã xếp hạng Việt Nam thứ 77 trên tổng số 140 nền kinh tế. So với 10 quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam chỉ hơn Campuchia (thứ 110) và Lào (112), thua 15 bậc so với cận trên là Brunei và thua 75 bậc so với Singapore - nền kinh tế đứng đầu Đông Nam Á và xếp thứ hai toàn cầu.
Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Diễn đàn kinh tế thế giới dựa trên 12 bộ chỉ tiêu đánh giá: thể chế, cơ sở hạ tầng, áp dụng công nghệ thông tin, sự ổn định của kinh tế vĩ mô, sức khỏe người dân, kỹ năng của người lao động, thị trường sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, sự năng động trong kinh doanh và năng lực đổi mới sáng tạo. Nó không có bất kỳ một chỉ tiêu nào liên quan đến "giá rẻ".
Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hãy đơn giản là nhìn vào mô hình thành công của Singapore. Họ không chào mừng các công ty chế biến cá hồi phi lê xuất khẩu và không có nhân công giá rẻ.
Tôi vẫn nghe nhiều lãnh đạo phát biểu hùng hồn "phát triển bền vững vì thế hệ tương lai" như một cụm từ đã thuộc lòng. Nhưng nhìn vào thực tế của nền kinh tế, dường như "các thế hệ tương lai" vẫn là chuyện của tương lai.
Nguyễn Đăng Anh Thi
VN thuộc kiểu phát triển nhanh nhưng k bền vững. Nền kinh tế có đi lên thật nhưng kéo theo bao hậu quả: môi trường ô nhiễm, tỉ lệ mắc ung thư ngày 1 tăng, suy thoái đạo đức,... 
Đó là do tư duy thành tích, nhiệm kỳ, còn tầm nhìn dài hạn chẳng ai quan tâm. Đơn giản chỉ vì, chưa ai thấy được thành tích thì anh sẽ bị chụp cho cái mũ "làm không tốt". Chúng ta chỉ có thể xóa bỏ được tư duy ngắn ...  
NTB - 09:51 28/01
Từ thấp đi lên thì dễ tăng trưởng nhanh, khi đã đạt mức cao thì không thể nhanh được. Chẳng khác gì một người làm công mỗi ngày được 100 nghìn thì dễ tìm cách để kiếm thêm mỗi ngày 10 nghìn nữa, tức là tăng trưởng 10%. Còn người ...  
Có đi tắt đón đầu thì phải có “bỏ lại”. Bỏ lại ai và bỏ lại những gì thì thuộc quyền quyết định của “chúng ta”.
Ý kiến của chị hay quá ạ. em xin bổ sung là cân đo lại cái mất đang dần to hơn cái được, vậy đâu gọi là phát triển. ko cần giàu mà có môi trường xanh đẹp còn hơn có tiền mà sống trong môi trường độc hại
Thực tế các nước đang phát triển đều đi theo kiểu này nhưng họ đi nhanh và rồi dần chuyển qua giai đoạn khác, ví dụ TQ đánh đổi để lấy tăng trưởng nhanh, bây giờ TQ siết môi trường rất chặt và dần không hứng thú việc lắp ráp ...  
vudo - 10:33 28/01
@NTB: "Tư duy ngắn hạn" ở đâu cũng có cà, ngay cả các nước phát triển cũng vậy thôi nhưng có khác ta ở một chổ là tuy duy của họ tuy có "ngắn hạn" nhưng nó vẫn tuân theo "chiến lược dài hạn"! còn ở ta nó ...  
Vodanh - 10:57 28/01
@Vodanh: Đồng ý với bác. Tư duy ngắn hạn chả có gì đáng để lên án. Quan trọng là nó có giải quyết được vấn đề tại thời điểm đó hay không. Không giải quyết được gì mà vẫn "xài" mới đáng lên án. Nhiều cái ngắn hạn ...  
Lâm - 12:12 28/01
@Nguyễn Minh Dũng: Tôi không đồng tình với ý kiến này. Có bài học của thỏ và rùa. Bạn không cần phải chạy nhanh như thỏ, chỉ cần chậm mà chăm chỉ, bền vững thì cả thế giới sẽ chờ bạn. Tôi không nghĩ vội vàng chạy nhanh ...  
QQN - 18:22 28/01
@QQN: "Cả thế giới chờ"???
Em rất đồng tình , họ sử dụng chất xám của người Việt Nam, họ sử dụng tài nguyên thiên nhiên hữu hạn và quý giá của đất nước Việt Nam hiện nay, họ thải chất độc hại , dơ bẩn , rác ... cũng trên chính từng m2 đất, ...  
Khi chưa có gì khác hấp dẫn ngoài giá nhân công rẻ thì chúng ta đành đem yếu tố giá rẻ ra để mời gọi nhà đầu tư. Chính chúng ta biết như vậy nhưng không làm khác được. Điều này chẳng khác gì một bà bán rau mời mọi ...  
Vấn đề nó không mang lại hiệu quả cho Việt Nam như Trung Quốc đã từng đạt được. Đây là một câu hỏi lớn chưa có lời giải.
TNH - 08:10 28/01
@TNH: Cái thời TQ "cung cấp nhân công giá rẻ" nó hợp với "xu hướng phát triển- thiên thời", còn lúc VN "cung cấp nhân công giá rẽ" là khi nó không còn "hợp thời" nên không thể đạt được hiệu quả như TQ!
Vodanh - 08:38 28/01
@Vodanh: Bạn nhầm rồi, Trung Quốc họ cấp nhân công giá rẻ nhưng họ cũng học được công nghệ sản xuất của các nhà sản xuất hàng đầu thế giới để áp dụng nên bây giờ mới có một nước Trung Quốc hùng mạnh. Còn nhìn lại nước ...  
TNH - 09:05 28/01
1 ký rau muống ở chợ quê giá bằng 1/10 trong siêu thị. Tại sao ? Vì rau ấy còn nguyên cả gốc rễ chưa ngắt đọt, chưa rửa sạch đất bùn, chưa tính đến không biết có lẫn hóa chất độc hại không. Rẻ hay đắt thuộc về chất ...  
Lâm - 12:23 28/01
Tôi đọc khá kĩ và nhận thấy 1 vài điều thế này: thứ nhất, phải chăng tác giả đang nhầm lẫn hay qui đồng yếu tố nhân công giá rẻ và lao động nguy hại, tác động môi trường? Ở ví dụ nhà máy chế biến cá hồi, môi trường ...  
Navi - 12:37 28/01
dong y
Phân tích như tác giả thì cũng có lí. Nhưng nhìn thực tế đi, nhân lực Việt nam có bao nhiêu % là trình độ trung bình, trình độ cao. Điều này chắc mọi người cũng biết, tác giả chắc là có con số. Mà muốn trình độ nhân lực ...  
Chuẩn
Nghia Minh - 23:51 28/01
@TNH: Học hay ép chuyển giao? Hay cả hai???
@Nghia Minh: Chuyển giao công nghệ là thỏa thuận bắt buộc của nhà đầu tư đối với các nước nhận FDI, Trung Quốc họ đã làm tốt điều này. 
TNH - 08:05 29/01
nhiều người cho rằng đi du lịch VN rất vui và rẻ? Riêng tôi không vui khi thấy những người ăn xin, bán vé số, những người phụ nữ lam lũ đang massage cho khách ngay bãi biển, hoặc bán hàng rong và gánh chạy khi bị đuổi. Một đất ...  
phuong - 07:48 28/01
Bạn có thể giải thích rõ hơn không? Mình đi cũng nhiều nước được gọi là văn minh nhưng ăn xin với massage gì đó vẫn đầy nhé, chỉ có vé số là họ có vì họ chỉ có vé số điện tử tương tự Viettlot của mình thôi.
@Tony Vo: bạn đã đi nhiều nước trên thế giới, vậy bạn đã đi nhiều ở VN chưa? Tôi nghĩ rằng chưa nên bạn mới hỏi ngây ngô như thế. Có gắng nhín chút thời gian đi ở VN nhé bạn
@Nguyen Minh: Tony Vo nói đúng. Ở đâu cũng vậy cả, chỉ khác nhau cái biện pháp quản lý. Đừng cho rằng những cái tồi tệ chỉ VN mới có. Ông chịu khó đi ra nước ngoài mà xem. Paris hoa lệ ăn xin móc túi đầy đường ...  
Lâm - 12:29 28/01
o dau cung vay ban oi.
@Nguyen Minh: dong y voi anh tony vo .nam nao toi cung di vietnam ban oi , chi co 1 dieu o nuoc ngoai ng ta lam viec gap doi ng o vn ,toi lam 10 tieng 1 ngay 6ngay 1 tuan moi nam ve vn 3tuan tranh ...  
Bài viết rất hay. Nhìn lại tình hình kinh tế đất nước, chúng ta thấy gì : công nhân làm thuê với giá rẻ cho doanh nghiệp FDI khiến cuộc sống chật vật, kinh tế tư nhân không thể bật dậy mãi với tên gọi vừa và nhỏ, nguồn vốn ...  
Bình luận hay và chuẩn nhất.
Chuẩn bạn !
VN chúng ta nên ngừng thu hút FDI mà hãy tập trung vào phát triển các doanh nghiệp tư nhân. Hàn quốc có chủ trương thu hút FDI đâu mà vẫn là nước công nghiệp.
Bạn nhầm. Hàn Quốc thu hút FDI, nhưng là thu hút có chọn lọc, không chạy theo thành tích, con số, mà quan tâm nhiều đến chất lượng, đến đóng góp của FDI cho nền kinh tế của Hàn.
NTB - 11:42 28/01
CHUYỆN BUỒN CỦA NĂM .THẾ HỆ TƯƠNG LAI
"...dường như "các thế hệ tương lai" vẫn là chuyện của tương lai".
Ủng hộ quan điểm tích cực của tác giả.
nếu anh không có "rẻ" thì anh có lợi thế gì? nhìn cho kỹ chẳng có gì cả, thông minh? trình độ học vấn? kỹ năng? công nghệ? chẳng có gì, hoặc có cũng kém người ta rất nhiều.
Cảm ơn tác giả đã nói lên lời muốn nói, mong là những người có chức năng đọc được bài viết này để đừng vô minh mà làm ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại và tương lai
Các cụ ta nói "của rẻ là của ôi" không sai tý nào cả, lợi thế giá rẻ chỉ giải quyết được vấn đề trước mắt như công ăn việc làm , cơm no, áo ấm vv, nó không thể đưa đất nước vươn lên cùng thời đại. Muốn đất ...  
Bao nhiêu năm kinh tế VN dựa vào "giá rẻ" mà vẫn không mấy khả quan, nguồn thu chủ yếu vẫn đến từ ĐẤT, DẦU THÔ, THAN ĐÁ.



Thứ Ba, 22 tháng 1, 2019

Orwell v Huxley: whose dystopia are we living in today?

https://www.ft.com/content/aa8ac620-1818-11e9-b93e-f4351a53f1c3
http://www.viet-studies.net/kinhte/Dystopia_Orwell_Huxley_FT.pdf

FINANCIAL TIMES 18-1-2019
Orwell v Huxley: whose dystopia are we living in today?
Orwell v Huxley: ngày nay chúng ta đang sống trong tiên đoán của ai? 

John Lanchester on how Brave New World and Nineteen Eighty-Four capture the age of Facebook and Trump 

John Lanchester thắc mắc như thế nào mà Brave New World (Thế Giới Mới Can Đảm)Nineteen Eighty-Four (Một Chín Tám Tư) lại chụp được thời đại của Facebook và Trump

John Lanchester January 18, 2019 
(Hà Nam Ninh cố dịch bày này. Nhưng dịch xong mới thấy đọc nguyên bản English thì mới hay. Thôi lỡ dịch rồi thì để vậy.)


The modern world looks to many like a dystopia — a version of “the darkest timeline”, to borrow a term from the American sitcom Community. Whose dystopia, though? Which writer best imagined this moment of turmoil and dysfunction? The greatest contributions to the tradition of dystopian fiction are two defining masterpieces from the 20th century, both of them bestsellers at the time and ever since: Aldous Huxley’s 1932 Brave New World and George Orwell’s 1949 Nineteen Eighty-Four.
Thế giới hiện đại đang giống hệt như một sự tiên đoán trước (dystopia) – một phiên bản của “thời đại đen tối nhất” “the darkest timeline”, mượn một thuật ngữ từ Cộng Đồng “sitcom” Mỹ. Tiên đoán của ai, dù gì? Nhà văn nào đã hình dung chính xác nhất về thời điểm rối ren và rối loạn chức năng này? Những đóng góp lớn nhất cho truyền thống của tiểu thuyết viễn tưởng cực đoan là hai kiệt tác được khẳng định từ thế kỷ 20, cả hai đều là bán chạy nhất “bestsellers” vào thời điểm đó và từ sau thời điểm đó: Brave New World (Thế Giới Mới Can Đảm) của Aldous Huxley xuất bản năm 1932 và Nineteen Eighty-Four (Một Chín Tám Tư) của George Orwell xuất bản năm 1949. 
The two dystopias have many details in common. Both writers saw a future shaped by weapons of mass destruction — biological and chemical weapons in Huxley’s case, nuclear war in Orwell’s. They agreed about the danger of permanent social stratification, with humanity divided into categories determined by biological engineering and psychological conditioning (Huxley) or traditional class combined with totalitarian loyalty systems (Orwell). Both men imagined future societies completely obsessed with sex, though in diametrically opposite ways: state-enforced repression and celibacy in the case of Orwell; deliberate, narcotising promiscuity in the case of Huxley. 
Hai bản tiên đoán này có rất nhiều chi tiết chung. Cả hai nhà văn đều nhìn thấy tương lai được định hình bởi những vũ khí hủy diệt hang loạt – Huxley mô tả về vũ khí sinh học và hóa học, chiến tranh hạt nhân là của Orwell. Họ đồng ý về mối nguy của sự phân tầng xã hội bền vững, với loài người được chia nhóm căn cứ vào kỹ thuật sinh học và điều hòa tâm lý (Huxley) hoặc tầng lớp truyền thống kết hợp với hệ thống lòng trung thành toàn trị (Orwell). Cả hai cùng tưởng tượng xã hội tương lai hoàn toàn bị ám ảnh bởi “sex”, dù rằng người này lại đối lập người kia: đàn áp bởi thế lực nhà nước và độc thân trong tác phẩm của Orwell; cố tình, lăng nhăng trong tác phẩm của Huxley. 
Both men thought the future would be dominated by America. Both men thought that future governments would spend a lot of effort permanently trying to incite economic consumption — not that either man thought of anything as wildly fantastical as quantitative easing. Both began their books with a short sentence designed to signal a world which was familiar but also disconcertingly futuristic: “A squat grey building of only thirty-four stories,” begins Brave New World. We are supposed to gasp with amazement at the “only”. Nineteen Eighty-Four begins: “It was a bright cold day in April, and the clocks were striking thirteen.” Thirteen! The horror! 
Cả hai đều cho rằng thế giới tương lai bị chi phối bởi Mỹ. Cả hai cùng nghĩ rằng các chính phủ tương lai đều sử dụng rất nhiều lỗ lực to lớn để xúi giục tiêu dùng kinh tế - không ai trong hai người nghĩ ra chút gì điên rồ như sự nới lỏng định lượng. Cả hai cùng bắt đầu cuốn sách của riêng mình với một câu ngắn được thiết kế để ra tín hiệu về một thế giới quen thuộc nhưng cũng tương lai rối bời: “Một tòa nhà xám xịt ngồi xổm với CHỈ ba mươi tư tầng,” mở đầu cuốn Brave New World. Chúng ta phải thở hồng hộc với cái kinh ngạc tại cái từ “CHỈ” (only). Nineteen Eighty-Four bắt đầu: “Một ngày lạnh sáng sủa trong Tháng Tư, và đồng hồ đang gõ số Mười Ba.” Mười Ba! Kinh dị! 
Both men were writing warnings: “the message of the book”, said Huxley, was, “This is possible: for heaven’s sake be careful about it.” In his vision, humanity was facing a future world tranquilised by pleasure and drugs and the voluntary distractions of “civilised infantilisation”. For Orwell, humanity was facing a permanent state of war and totalitarian mind-control, summed up by the image of “a boot stamping on a human face, for ever”. For all the overlap, though, they are usually seen as contradictory, conflicting versions of the future. 
Cả hai cũng đã viết cảnh báo: “đây là thông điệp”, Huxley viết, “Cái này là khả thi: lợi ích của Trời hãy cẩn thận về nó.” Trong tầm nhìn của ông, nhân loại đang đối mặt với thế giới tương lai bị ru ngủ bởi sự thoải mái và ma túy và những phiền nhiễu tự nguyện của “trẻ sơ sinh văn minh”. Ở chỗ Orwell, loài người sẽ đối mặt với tình trạng chiến tranh và kiểm soát tâm trí toàn trị vĩnh viễn, tóm tắt bằng hình ảnh “một chiếc giầy dính trên mặt người, mãi mãi”. Dù gì, cho tất cả sự chồng chéo, chúng thường được nhìn nhận là sự mâu thuẫn, những phiên bản xung khắc của tương lai. 
George Orwell, the author of ‘Nineteen Eighty-Four’ © Bettmann Archive


The difference between the two dystopias is rooted in one of imaginative literature’s central distinctions. Many writers of speculative fiction — a term preferred over science fiction by Margaret Atwood, among others — like to stress that their work is a vision of the present, magnified and intensified. “The future is here,” William Gibson has said, “it’s just unevenly distributed.” Atwood made it a rule in writing The Handmaid’s Tale that she “would not put any events into the book that had not already happened . . . nor any technology not already available. No imaginary gizmos, no imaginary laws, no imaginary atrocities.” Orwell did create some technological innovations for his future world, but in essence his Nineteen Eighty-Four is a deep look into the heart of already existing totalitarian societies. Some of the details may be from the straitened world of the 1940s — the novel is pervaded by the smell of boiled cabbage — but the story goes far past that into the depths of the human heart and the totalitarian project to reshape it.

Sự khác nhau giữa hai bản sấm là mỗi bản được cội rễ từ sự phân biệt trung tâm văn học viễn tưởng. Nhiều tác giả của dòng văn viễn tưởng đầu tư (speculative fiction) – một thuật ngữ được ưa thích hơn thuật ngữ khoa học viễn tưởng (science fiction) bởi Margaret Atwood, cũng như nhiều người khác – như để nhấn mạnh rằng công việc của họ là một tầm nhìn của hiện tại, được phóng đại và thổi phồng. "Tương lai là đây," William Gibson đã nói, "nó chỉ phân phối không đều." Atwood đã tạo ra một nguyên tắc trong cuốn The Handmaid's Tale (Truyện Cổ Tích Thủ Công) rằng bà "sẽ không đưa vào trong sách bất cứ sự kiện nào đã xảy ra cũng như bất cứ công nghệ nào đã xuất hiện. Không linh vật siêu hình, không có luật siêu tưởng, không có sự tàn bạo tưởng tượng." Orwell đã tạo ra một số đổi mới công nghệ cho thế giới tương lai của ông, nhưng về bản chất Nineteen Eighty-Four của ông là cái nhìn sâu vào trong trung tâm của những xã hội toàn trị đang tồn tại. Một số chi tiết có thể bắt nguồn từ thế giới rối bù của những năm 1940 - cuốn tiểu thuyết tràn ngập mùi bắp cải luộc - nhưng câu chuyện lại đi lùi xa vào sâu thẳm trái tim con người và tâm phát toàn trị để định hình lại nó. 
No one could have been better placed than Orwell to see into this present and project it into the future. His life-long involvement with leftwing ideas was both theoretical — nuances of perspectives from the Independent Labour party to the union movement through anarchism, Trotskyism and Stalinism — and directly lived. It was characteristic of him that when he went to the Spanish civil war to write about it, he found himself unable to stand back and report, but instead, once he saw the reality of what was happening, immediately joined the Trotskyist militia to fight the fascists. The utter ruthlessness with which the Soviet-backed faction suppressed the other groups on the republican side, their willingness to lie and murder their own allies, gave Orwell the impetus and insight to write his great novel about totalitarianism. 
Có thể không một ai đã được vào đặt chỗ tốt hơn Orwell để nhìn thấu vào hiện tại và định hình nó ở tương lai. Cả cuộc đời của ông với sự tham gia vào các ý tưởng cánh tả (leftwing) là cả hai lý thuyết - sắc thái của các quan điểm từ đảng Lao Động Độc Lập (Independent Labour party) đến phong trào công đoàn (union movement) thông qua thuyết vô chính phủ (anarchism), thuyết Trotsky (Trotskyism)thuyếtStalin (Stalinism) - và thực tế đời sống. Đó là tính cách của ông rằng khi ông đến cuộc nội chiến España (Tây Ban Nha) để viết bài, ông tự nhận thấy bản thân không thể chỉ đứng đằng sau rồi viết lách, thay vào đó, khi ông nhìn thấy thực tại đang diễn ra trước mắt, đã lập tức tham gia vào dân quân Trotsky (Trotskyist militia) để đánh quân phát-xít (fascists). Sự tàn nhẫn tột độ với những gì mà phe ủng hộ Liên-Xô (Soviet-backed) đàn áp các nhóm cộng hòa, sự sẵn sàng nói láo và hành quyết chính đồng đội cũ, đã trao cho Orwell xung lực và cái nhìn sâu sắc để viết cuốn tiểu thuyết vĩ đại về chế độ toàn trị (totalitarianism).

"The meeting room named Only Good News — can you guess whether that belongs to Huxley’s World Controller, or Sheryl Sandberg?"
"Phòng họp được đặt tên Only Good News (Chỉ Những Tin Tốt Lành) - Liệu bạn có thể đoán rằng nó thuộc về Huxley's World Controller (Bộ Điều Khiển Thế Giới của Huxley), hay Sheryl Sandberg?"

It is because of that, in this difficult historic moment, that the Orwell vs Huxley contest might seem to have been concluded in Orwell’s favour. I was recently on a plane just after the start of the school holidays, and in the course of wandering up and down the aisle, noticed the startling fact that three different young people were reading Nineteen Eighty-Four, in three different languages (English, Italian, Portuguese). Not bad for a 70-year-old book. The Orwell estate has always been well run, attentive to the business of keeping his reputation in public view — that was one of the inspirations behind the creation of the annual Orwell prizes for political writing. You could even say that Sonia Orwell, who married him on his deathbed, was being attentive to his reputation in taking his pseudonym as a surname, given that his family knew him as Eric Blair. (This point was made to me by a relative of Orwell’s, someone who thrillingly-to-me knew him as Eric.) 
Đó là lý do, trong thời khắc lịch sử khó khăn này, cuộc thi giữa Orwell và Huxley có vẻ như đã đến phần kết lợi thế cho Orwell. Gần đây có lần trên tàu bay ngay sau khi kỳ nghỉ ở trường bắt đầu, và trong lúc lang thang đi lại trên lối đi, một sự ngạc nhiên làm tôi chú ý đó là ba cậu thanh niên khác nhau đang đọc Nineteen Eighty-Four bằng ba ngôn ngữ khác nhau (English, Italiano, Português) (Anh, Ý, Bồ Đào Nha). Không tồi cho một cuốn sách 70 tuổi. Quỹ di sản Orwell vẫn đã được vận hành tốt, chú ý đến việc gìn giữ uy tín của ông trong mắt công chúng - đó đã là một trong những nguồn cảm hứng đằng sau việc tạo ra giải thưởng mang tên Orwell hàng năm cho bài viết chính trị (Orwell prizes). Thậm chí bạn có thể nói rằng Sonia Orwell, người đã cưới ông khi ông hấp hối trên giường, đã đang chú ý đến thanh danh của ông trong việc lấy bút danh của ông làm họ của bà, ngay cả khi gia đình ông cho biết ông là Eric Arthur Blair. (Tôi được cho biết về điểm này bởi một người họ hàng của Orwell, một người đã làm tôi kinh ngạc khi tôi biết ông ấy là Eric.)
==============
Nothing, however, but nothing, could rival the sales boost provided by Donald Trump. This president embodies the insight that given a willingness to lie without compunction, norms of veracity can be abolished with extraordinary speed. It is one of the central demands of the Party, in Orwell’s book, that you “reject the evidence of your eyes and ears”. Trump put that maxim into effect on his very first day in office, with his insistence that people ignore the evidence of their senses about his Inauguration day crowds. The world is not divided up into three dominant totalitarian superstates, as in the novel, but in a time of ascendant strongmen, dictators, anti-Semites and state-sponsored liars, many of Orwell’s other prophesies have come true. Consider North Korea, an inherited communist dictatorship many of whose features — a society based on hierarchies of loyalty to the leadership — might have been directly transcribed from Nineteen Eighty-Four. 

Không cái gì, tuy nhiên, nhưng đúng là không có cái gì, có thể làm tăng doanh số bán hàng như cách của Donald Trump. Vị tổng thống này là đại diện tiêu biểu rằng luôn sẵn sàng nói dối mà không hề hối hận, định mức của tính chân thực có thể bị bãi bỏ với tốc độ chóng mặt. Cái đó là một trong những yêu cầu trung tâm của Đảng, trong sách của Orwell, rằng bạn "từ chối những bằng chứng bạn nhìn thấy và nghe được". Trump đưa thẳng phương châm đó vào thực hiện ngay trong thời khắc đầu tiên nhận nhiệm vụ, với sự nhấn mạnh của ông ấy rằng mọi người thờ ơ với bằng chứng từ những giác quan của họ về Lễ nhậm chức của ông ấy. Thế giới không chia thành ba siêu quốc gia toàn trị trọng yếu, như trong cuốn tiểu thuyết, nhưng trong thời lên ngôi của những kẻ kiêu ngạo, kẻ độc tài, kẻ chống Do thái (anti-Semites) và kẻ nói dối được nhà nước bảo trợ, nhiều lời tiên tri khác của Orwell đã thành hiện thực. Hãy xem North Korea (Bắc Triều Tiên), một thể chế thừa hưởng rất nhiều đặc điểm độc tài cộng sản - một xã hội dựa trên hệ thống thứ bậc của lòng trung thành đối với lãnh đạo - phải chăng mô hình đó là bước ra trực tiếp từ Nineteen Eighty-Four.
'Brave New World’ author Aldous Huxley in 1958 © Philippe Halsman / Magnum Photos

Wait a minute, though. Orwell was right about many things, but Huxley was right too. Huxley’s background was similar to Orwell’s — not only did they both go to Eton, Huxley went back there as a young man (and even taught Orwell French). Despite that, Huxley’s milieu was very different, scientific and philosophical rather than politically engaged. The Huxleys were scientific and liberal aristocracy: Aldous’s great-uncle was the poet laureate Matthew Arnold; his grandfather Thomas was “Darwin’s bulldog”, the first high-profile public defender of Darwin’s ideas; his brother Julian was a prominent biologist and public figure, the first directorgeneral of Unesco, co-founder of the World Wildlife Fund. Julian was also a leading eugenicist, dedicated to the idea that science could be used to weed out inferior genetic stock for the public good. 
Hãy chờ một phút, dù gì. Orwell đã đúng về nhiều thứ, nhưng Huxley cũng đúng chứ. Huxley có xuất thân giống như Orwell - không chỉ là việc cả hai cùng học trường Eton, Huxley còn trở lại đó khi trai trẻ (và thậm chí đã dạy Français (tiếng Pháp) cho Orwell). Mặc dù vậy, lãnh vực của Huxley rất khác, thiên về khoa học và triết học hơn là tham gia chính trị. Dòng họ Huxley là quí tộc tự do và khoa học: Anh của ông ngoại Aldous là thi sĩ đoạt giải Matthew Arnold; ông nội Thomas là "Darwin's Bulldog" (người ra sức ủng hộ thuyết tiếnhóa), là người đầu tiên đẳng cấp cao bảo vệ ý tưởng của Darwin; anh trai Julianlà nhà sinh vật học lỗi lạc và nổi tiếng trong công chúng, tổng giám đốc đầu tiên của UNESCO, đồng sáng lập Quỹ Động Vật Hoang Dã Thế Giới. Julian cũng là người hàng đầu nghiên cứu ưu sinh học (eugenicist), chuyên tâm cho ý tưởng rằng khoa học có thể được sử dụng để loại bỏ những nguồn di truyền kém chất lượng vì lợi ích công. 
The emotional texture of Brave New World is very different from that of Nineteen Eighty-Four; there is a playfulness, a lightness, not at all like the grim, repressed, grey-toned landscape of Orwell’s novel. The question of eugenics offers us a clue to the reason for this. Huxley was interested in eugenics, which held a fascination for many intellectuals of the left as well as of the right. He came to see it as a sinister field — correctly, since the thought that the poor have genetic traits which could and should be bred out of them is indeed one of the darkest and most dangerous ideas of the 20th century. But he had first felt the lure of the idea that modernity can improve us, that science can cure some of the pain and difficulty of being human. The fact that Huxley had been tempted by these thoughts helped him depict his ideas with a lighter, more exploratory touch than Orwell. 
Tiết tấu cảm xúc trong Brave New World rất khác với trong Nineteen Eighty-Four; có sự vui vẻ, sáng sủa nhẹ nhàng, phong cảnh không nghiệt ngã, nghẹt thở và ảm đạm như tiểu thuyết của Orwell chút nào. Câu hỏi về ưu sinh học đưa cho chúng ta một manh mối dẫn đến lý do cho việc này. Huxley bị hấp dẫn bởi ưu sinh học, đấy là cái nắm giữ một mê hoặc đối với nhiều trí thức của cả bên trái cũng như bên phải. Ông đến để xem nó như một lãnh vực độc ác - chính xác, bởi vì cách nghĩ rằng người nghèo có những đặc tính di truyền có thể loại bỏ được và nên loại bỏ ra khỏi họ - thực sự là một trong những ý tưởng tăm tối nhất và nguy hiểm nhất của thế kỷ 20. Nhưng lúc bắt đầu ông cảm thấy sự quyến rũ của ý tưởng rằng sự hiện đại có thể cải thiện chúng ta, rằng khoa học có thể chữa lành một vài sự đau khổ và khó khăn khi phải làm người. Yếu tố rằng Huxley đã bị cám dỗ bởi những suy tư này đã giúp ông mô tả ý tưởng của ông bằng cách tiếp cận nhẹ nhàng hơn, mang tính khám phá nhiều hơn so với Orwell.
Huxley’s dystopia was the other sort of speculative fiction from Orwell’s: not a deep burrowing into the present, but a projection of existing trends into the future. He genuinely was trying to think about what the future would be, if things carried on in the direction they were headed. He was well placed to see trend lines in many of the sciences and made good guesses about where they were going. As a result, we can make a strong claim that it is he, and not Orwell, who did a better job of predicting modern life in the developed world. The revolutionary change in attitudes to sex, for instance, is not something many people foresaw in 1932, but Huxley did: the separation of sex and reproduction is complete in Brave New World, as it is near-complete in modern life. He guessed correctly about the development of new technologies in contraception, and guessed correctly about their consequences too. 
Xã hội giả tưởng (dystopia) của Huxley là một loại viễn tưởng đầu tư (speculative fiction) khác so với Orwell: không đào sâu vào tận trong cùng của hiện tại, nhưng là sự phát xạ những xu hướng của hiện tại để chiếu vào tương lai. Ông ấy thực sự đang cố gắng nghĩ trăn trở tương lai sẽ ra sao, nếu mọi thứ đang diễn ra theo hướng mà nó đang đi. Ông ấy được đặt vào vị trí tốt để nhìn thấy các đường hướng trong nhiều ngành khoa học và đưa ra những dự đoán về nơi mà chúng sẽ đi tới. Kết quả là, chúng ta có thể đưa ra tuyên bố mạnh mẽ rằng đó là ông ấy, và không phải Orwell, người đã làm tốt hơn trong việc dự đoán cuộc sống hiện đại trong thế giới phát triển. Lấy ví dụ, sự thay đổi mang tính cách mạng trong thái độ đối với "sex" không phải là cái gì mà nhiều người đoán được vào thời 1932, nhưng Huxley thì có: sự tách biệt giữa "sex" và việc sanh đẻ đã hoàn thiện trong Brave New World, cũng như nó gần như xong trong cuộc sống hiện đại. Ông đã dự đúng về sự phát triển của các công nghệ mới trong việc tránh thai, và cũng dự đúng về hậu quả của chúng.
In Brave New World promiscuity is not just normal, it is actively encouraged; total frankness in all aspects of sexuality, ditto. Sex is a distraction and a source of entertainment, almost a drug. Huxley would have looked at our world of dating apps and sexualised mass entertainment — and perhaps especially shows such as Love Island and Naked Attraction — and awarded his predictions a solid A+. (Naked Attraction is a Channel Four dating show on which people choose a partner based on whether or not they like the look of their genitals. The audience sees the genitals too. When you describe this show to people, they often think they’ve misunderstood, and that you can’t mean that people stand with their faces concealed and their genitals exposed and are chosen by a prospective partner on that basis — but that’s exactly what happens. I recommend this programme to anyone who doesn’t agree that norms around sexuality have changed.) Orwell saw a future in which the state discouraged sex. In this respect he was completely wrong and Huxley was completely right. 
Trong Brave New World việc sống thử hay tình một đêm không chỉ là bình thường, nó được tích cực khuyến khích; hoàn toàn thẳng thắn trong mọi khía cạnh của tình dục, giống hệt cuộc sống hiện đại ngày nay. "Sex" là một thứ tiêu khiển và là nguồn giải trí, gần như là một thứ ma túy. Huxley như thể đã nhìn vào thế giới của chúng ta những ứng dụng hẹn hò và các chương trình giải trí tình dục công chúng - và có thể đã chơi các "shows" như là Love Island (Đảo Tình)Naked Attraction (Sức Hút Trần Trụi) - thưởng cho cái dự của ông điểm A+ chắc chắn. (Naked Attraction là một "show" hẹn hò trên Channel Four (kênh 4), trên đó người ta lựa chọn bạn tình dựa vào việc có thích hay không thích vẻ ngoài của bộ phận sanh dục. Người xem chương trình cũng nhìn thấy bộ phận đó. Khi bạn mô tả "show" này cho người khác, họ thường nghĩ là họ hiểu lầm, và rằng bạn không phải muốn kể rằng người ta đứng ở đó, mặt được che kín và bộ phận đồ chơi phơi ra và đối tác tiềm năng lựa chọn nhau căn cứ trên cơ sở đó - nhưng đó chính xác là như vậy. Tôi sẵn sàng giới thiệu chương trình này cho bất cứ ai không đồng ý rằng các chuẩn mực quanh chuyện tình dục đã thay đổi.) Orwell đã nhìn thấy một tương lai trong đó nhà nước cấm đoán "sex". Riêng về mặt này ông đã hoàn toàn sai và Huxley hoàn toàn đúng.
Huxley was also more broadly right about pleasure. Orwell wrote about a world which was sensually constrained, pinched, grey — that was one of the main respects in which he was channelling the spirit of the 1940s. Huxley looked ahead, and saw a future in which life was very pleasant — lullingly, deadeningly, numbly pleasant. Undemanding pleasures and unchallenging entertainments are central to the functioning of society. Sources of distraction play a vital role. The “feelies”, the main source of mass entertainment, are all about escape from the self. “When the individual feels, society reels,” is the motto, and every effort is made to stop people from feeling strong emotion. The preferred method for this is soma, a side-effect free drug which guarantees dissociated happiness. Here, again, Huxley could look at the modern use of antidepressants, anti-anxiety and sedative medications, and conclude that he had nailed it. 
Huxley cũng đúng nhiều hơn về sự giải trí. Orwell viết về một thế giới mà nó bị khống chế cảm xúc, đè nén, xám xịt - đó là một trong những phương diện chính mà ông ấy đang xoi đường tinh thần của những năm 1940. Huxley nhìn về phía trước, và thấy một tương lai trong đó cuộc sống rất dễ chịu - dễ chịu một cách ru ngủ, thoát xác, tê liệt. Những thú vui không bao giờ chán và những trò giải trí không giới hạn là trung tâm chức năng của xã hội. Nguồn tiêu khiển đóng một vai trò quan trọng. Phim "feelies" (xem chú thích cuối bài), nguồn chính của giải trí đại chúng, là tất cả về vấn đề thoát khỏi bản thân. "Khi một cá nhân cảm giác, thì xã hội lảo đảo," đó là tiêu chí, và mọi cố gắng được tạo ra để ngăn chặn người ta khỏi cảm giác xúc động mạnh. Phương pháp được ưa chuộng cho việc này là soma, một loại ma túy không có tác dụng phụ mà nó đảm bảo chia rẽ hạnh phúc. Ở đây, lại nữa, ông ấy hẳn đã nhìn vào thế giới hiện đại sử dụng thuốc chống trầm cảm, thuốc chống lo lắng, thuốc an thần, và ta kết luận rằng ông ấy đã đóng đinh cái đó.
One particular area of Huxley’s prescience concerned the importance of data. He saw the information revolution coming — in the form of gigantic card-indexes, true, but he got the gist. It is amusing to see how many features of Facebook, in particular, are anticipated by Brave New World. Facebook’s mission statement “to give people the power to build community and bring the world closer together” sounds a lot like the new world’s motto “Community, Identity, Stability”. The world in which “we haven’t any use for old things” dovetails with Mark Zuckerberg’s view that “young people are just smarter”. The meeting room whose name is Only Good News — can you guess whether that belongs to Huxley’s World Controller, or Sheryl Sandberg? The complete ban on the sight of breast feeding is common to the novel and to the website. The public nature of relationship status, the idea that everything should be shared, and the idea that “everyone belongs to everyone else” are also common themes of the novel and the company — and above all, the idea, perfectly put by Zuckerberg and perfectly exemplifying Huxley’s main theme, that “privacy is an outdated norm”.
Một cái đặc biệt trong tiên đoán của Huxley liên quan đến sự quan trọng của "data". Ông ấy đã nhìn thấy sự xuất hiện của cách mạng thông tin - trong dạng thức của các thẻ chỉ mục khổng lồ, thật, nhưng ông ấy đã có điểm cốt yếu. Thật kinh ngạc khi xem có bao nhiêu đặc điểm của Facebook, tính riêng, đã được dự trước trong Brave New World. Tuyên bố sứ mệnh của Facebook "đưa cho mọi người quyền năng để xây dựng cộng đồng và mang thế giới lại gần nhau hơn" nghe giống hệt như phương châm của thế giới mới "Cộng Đồng, Tên Tuổi, Cân Bằng". Thế giới mà trong đó "chúng ta không có cái gì dùng cho những đồ cũ" khớp với quan điểm của Mark Zuckerberg rằng "người trẻ đơn giản là nhạy bén hơn". Phòng họp được đặt tên Only Good News (Chỉ Những Tin Tốt Lành) - Liệu bạn có thể đoán rằng nó thuộc về Huxley's World Controller (Bộ Điều Khiển Thế Giới của Huxley), hay Sheryl Sandberg? Việc cấm tuyệt đối trên cái nhìn cho con bú là thông thường đối với tiểu thuyết và "website". Tính chất công khai của trạng thái mối quan hệ, ý tưởng rằng mọi thứ nên được chia sẻ, và ý tưởng rằng "mọi người thuộc về nhau" cũng là chủ đề thông thường của tiểu thuyết (Brave New World) và bạn đối ứng (Facebook) - và trên tất cả, ý tưởng, đặt ra hoàn hảo bởi Zuckerberg và minh họa hoàn hảo chủ đề chính của Huxley, rằng "quyền riêng rư là một định kiến lỗi thời".

"We can still change direction. There will be life after Trump and Putin. There may even be life after ‘Naked Attraction’ and Facebook"
"Chúng ta còn có thể đổi hướng. Có thể có cuộc sống sau thời Trump và Putin. Thậm chí có thể có cuộc sống sau thời 'Naked Attraction' và Facebook"

This theme, of an attack on privacy, is central to Orwell’s vision too. Thought crime is one of the most serious crimes in Nineteen Eighty-Four. It is at this point that we can start to see his and Huxley’s novels not as competing visions of the future but as complementary, overlapping warnings. Our world has sex on display everywhere, entertainment to take you out of your mind whenever you want, and drugs to make you stop feeling. It also has an increasing number of strongmen leaders who rewrite history and ignore the truth, and a growing emphasis on crimes-by-thought. We don’t have an official “Two Minutes Hate”, as Orwell’s state of Oceania does, but our social media equivalents come pretty close. The idea of permanent low-level war as a new norm looks a lot like our 18-year global war on terror — in fact the GWOT would fit in nicely in Orwell’s world of acronyms and Newspeak. The idea of a society permanently stratified into inherited or genetically determined social classes maps well on to a modern world where the most unequal societies are also the ones in which people are most likely to inherit their life chances. 

Chủ đề này, một sự tấn công vào quyền riêng tư, cũng là trung tâm của tầm nhìn của Orwell. Tội phạm tư tưởng là một trong những tội nghiêm trọng nhất trong Nineteen Eighty-Four. Đó là tại chính điểm này rằng chúng ta có thể bắt đầu nhìn thấy tiểu thuyết của ông và của Huxley không phải là những tầm nhìn hoàn chỉnh về tương lai nhưng là những cảnh báo chồng chéo bổ khuyết lẫn nhau. Thế giới của chúng ta đã có "sex" trên màn hình ở mọi nơi, các trò giải trí nhảm lôi bạn ra khỏi tâm trí bất cứ lúc nào bạn muốn, và ma túy làm cho bạn dừng cảm xúc. Số lượng những tên lãnh đạo điên cuồng cũng đang tăng lên họ viết lại lịch sử và coi thường sự chân thật, và sự lớn mạnh ngông cuồng của tội phạm tư tưởng. Chúng ta không có chương trình chính thức "TwoMinutes Hate" như siêu quốc gia Oceania làm, nhưng truyền thông xã hội của chúng ta thì cũng gần tương tự (chú thích của người dịch: trong tác phẩm của Orwell, siêu quốc gia Oceania phải dành ra mỗi ngày hai phút để xem chương trình "Two Munites Hate" là chương trình chuyên về kể tội kẻ thù của quốc gia). Ý tưởng về cuộc chiến trường kỳ cấp độ thấp như là một qui tắc mới xem ra nó giống rất nhiều cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu dòng dã 18 năm qua - thực sự rằng GWOT (cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố) rất phù hợp trong thế giới của Orwell về từ viết tắt và từ ngữ báo chí. Ý tưởng về một xã hội phân tầng vĩnh viễn chia ra thành những bản đồ các tầng lớp xã hội căn cứ theo di truyền và thừa kế giống hệt như thế giới hiện đại nơi mà những xã hội bất công nhất trong đó con người gần như chỉ thừa hưởng cơ hội cuộc đời của họ.
A globally dominant society ruled by a party and a strong leader, a society which uses every possible method of surveillance and data collection to monitor and control its citizens, a society which is also enjoying a record rise in prosperity and abundance, and using unprecedented new techniques in science and genetics — that society would look a lot like a blend of Orwell’s and Huxley’s visions. It would also look a lot like modern-day China. The developing Chinese “citizen score”, a blend of reputational and financial and socio-political metrics, used to determine access to everything from travel and education and healthcare, is such a perfect blend of dystopias that we can only credit it to a new writer, Huxwell. Some commentators on the subject have begun saying that the citizen score is being misunderstood, that it is only a Chinese attempt to develop something as all-encompassing and socially determinative as we in the fortunate west already have with credit rating agencies. They’re missing the point: that isn’t what’s good about the citizen score. It’s what’s bad about it. 
Một xã hội toàn trị toàn diện được cai trị bởi một đảng và một lãnh đạo cường bạo, một xã hội mà nó sử dụng mọi phương tiện có thể để giám sát và thu thập "data" để điều khiển và kiểm soát con người, một xã hội nó cũng đang tận hưởng một sự ra tăng kỷ lục của thịnh vượng và phong phú, và sử dụng những kỹ thuật mới chưa từng thấy trong khoa học và di truyền - xã hội đó trông rất giống với một thứ trộn của hai tầm nhìn của Huxley và Orwell. Nó cũng giống hệt như China ngày nay. Chương trình "citizen score" (điểm số công dân) của China, là một thứ trộn các số liệu về danh tiếng, tài chính và chính trị xã hội, nó được sự dụng để truy cập xác định mọi thứ từ việc đi du lịch và giáo dục và chăm sóc sức khỏe, giống như là một sự trộn hoàn hảo của xã hội giả tưởng mà chúng ta chỉ có thể cho rằng nó là của một nhà văn mới tên là Huxwell. Một số bình luận viên về vấn đề này đã bắt đầu nói rằng chương trình "citizen score" chỉ là đang bị hiểu lầm thôi, rằng nó chẳng qua chỉ là sự cố gắng của China để phát triển một thứ gì đó "tất cả mọi người tất cả mọi thứ và xác định xã hội" như chúng ta thôi, nhưng may mắn ở phương tây là có sự kiểm soát của các tổ chức xã hội. Họ đã quên mất một điểm: Chương trình "citizen score" có cái gì là tốt. Cái gì tệ hại về nó.
Huxley and Orwell both wrote their books to try and prevent their dystopias from coming true. Their success at prophecy is also their failure — because the righter they are, the more their projects didn’t do what they were supposed to. Neither man would have thought that a reason to give up hope. Their warnings are still valid. We can still change direction. There will be life after Trump and Putin. There may even be life after Naked Attraction and Facebook. Last word to Huxley, in the foreword to his dystopia, written 20 years later: “though I remain no less sadly certain than in the past that sanity is a rather rare phenomenon, I am convinced that it can be achieved and would like to see more of it”.
Huxley và Orwell cũng viết sách để cố gắng và phòng ngừa những giả tưởng của họ trở thành hiện thực. Thành công của họ trong sự tiên đoán cũng là thất bại của họ - bởi vì họ càng đúng bao nhiêu, thì dự án của họ càng không làm những gì họ định làm. Không ai trong hai ông có suy nghĩ rằng là một lý do để từ bỏ hy vọng. Cảnh báo của họ vẫn còn nguyên giá trị. Chúng ta còn có thể đổi hướng. Có thể có cuộc sống sau thời Trump và Putin. Thậm chí có thể có cuộc sống sau thời Naked AttractionFacebook. Lời cuối cho Huxley, trong lời tựa đề cho tiểu thuyết giả tưởng của công, được viết 20 năm sau đó: "dù gì tôi vẫn chắc chắn buồn không kém hơn trong quá khứ rằng sự tỉnh táo là một hiện tượng hiếm, và tôi bị thuyết phục rằng nó có thể đạt được và mong nhìn thấy nó thêm nữa".

Chú thích của dịch giả Hiếu Tân:
* Feelies: phim nhục cảm, gợi tình, khích động tiếp xúc cơ thể, với tâm thế tự do thoải mái. Người xem ngồi trong những ghế đặc biệt, có thể sờ mó, tương tác với phim.


Thứ Tư, 16 tháng 1, 2019

Trương Duy Nhất - Chỉ số niềm tin của người Việt

Trương Duy Nhất - Chỉ số niềm tin của người Việt



Kết quả, từ một cuộc khảo sát xã hội học của Viện nghiên cứu phát triển Mekong, với 1.400 người Việt được chọn lựa ngẫu nhiên: 90% cho rằng mình hạnh phúc, 90% tin tưởng vào hệ thống giáo dục, 90% tin tưởng vào hệ thống y tế và pháp luật, 68% tin tình hình tham nhũng sẽ được cải thiện trong 5 năm tới, 75% cho rằng triển vọng kinh tế và việc làm sẽ được cải thiện trong 5 năm tới (*).


Tôi tin, cuộc khảo sát có thể là nghiêm túc, khách quan. Nhưng, không quá ngạc nhiên về kết quả này.
Năm 2011, Viện dư luận BVA và tổ chức quốc tế Gallup cũng từng công bố một kết quả khảo sát tại 53 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới về chỉ số lạc quan của người dân: nước Việt đứng đầu, dân Việt được xem là lạc quan nhất thế giới.
Điều đáng nói, không phải ở vị thế nhất nhì, hay những chỉ số 90% ấy.
Báo chí, rồi lại sẽ tung hê, hồ hởi trước những chỉ số niềm tin, với hạnh phúc này. Còn tôi nghĩ khác: Đó là một nỗi lo, nếu không muốn nói là báo nguy, về bản tính tiếp nhận dễ dãi của người Việt, dễ bằng lòng với thực tại mà ít đòi hỏi quyết liệt cho những thay chuyển lớn.
Một đất nước, một dân tộc mà chỉ số lòng tin trong dân chúng luôn ở mức hài lòng, dễ dàng chấp thuận thực tại thì đó là một dân tộc không có khao khát lớn.
Nhìn ở nghĩa đó, cái chỉ số niềm tin với hạnh phúc 90% kia là đáng lo, chứ không phải đáng mừng.
------
HNN:
Tôi cũng cùng suy nghĩ như anh.
Xung quanh tôi rất nhiều người "né tránh" chuyện chính trị. Xem ra họ chỉ nghĩ rằng "nói gì đó đụng chạm là chính trị". Trong khi rõ ràng: "bạn có né tránh chính trị, thì nó cũng không tha cho bạn yên".
Chính bởi vậy các con số thống kê với người Việt chắc chắn là kết quả thật!
Nhưng nó cũng giống như chuyện bằng cấp ở VN vậy. Chắc chắn các bằng tiến sĩ là thật, tôi nói thật ở đây là họ đã học thật, làm luận văn thật, và bảo vệ thật! Có điều chất lượng đề tài thì cũng chỉ như mớ rau mà thôi.
Bởi vậy cái chỉ số hài lòng của người Việt như vậy là đúng. Nhưng chất lượng công dân của chúng ta cũng chỉ như mớ rau thôi mà!
Một chính phủ cố tình làm cho dân ngu thì làm sao có thể có chất lượng công dân cao được!

3 phản hồi Cho “Chỉ số niềm tin của người Việt”

  1. Hồ Văn nam viết:
    Chính vì chỉ số hài lòng cao nên dân tộc này mãi mãi làm thân trâu ngựa.
  2. Việt Nam viết:
    Mấy cái “đầu to”(cỡ đầu bò hay trâu)trong BCT làm sao có cái nhìn khác và sắc sảo như anh NHẤT được!!!Khi nào có dịp qua MỸ mời ghé tôi uống vài ly rượu chơi nhé !
  3. thanh loan viết:
    CS nói phải trừ hao 99%.

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

Di chúc


1/ Những người chưa gặp tôi bao giờ đừng đến viếng tôi. Mất công tôi thành ma rồi lại phải đau đầu nghĩ xem là có quen hay không?
2/ Những người đã từng gặp mà không thân cũng xin đừng viếng tôi. Vì tôi nghĩ bạn không có gì để viếng tôi cả.
3/ Những người đến viếng tôi xin đừng buồn lòng. Cả đời chúng ta sống khổ cực như vậy mà luôn vui vẻ. Huống hồ khi chết đi thoát khỏi kiếp ô trược, thì phải vui hơn chứ!
4/ Khi đến viếng xin đừng cho tiền hay cho hiện vật gì cả. Tôi chết rồi không trả nợ được đâu. Hãy đến với nhau chỉ bằng tấm lòng thôi.
5/ Tôi không tin là có cái ông Đấng sáng tạo. Giả sử có ông ấy thật thì đúng: "Loài người là thiết kế tuyệt nhất của ông ấy, nhưng cũng chính là sai lầm to đùng của ông ấy!" Cũng tương tự như vậy, thế giới càng phát triển thì con người càng bị trở thành nô lệ của những thứ phát triển đó nhiều hơn.

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2018

Hà Hồng Tiến: Nỗ lực cố gắng cải thiện hình ảnh người Việt

Link https://livehappiereveryday.tumblr.com/post/181423445367/n%E1%BB%97-l%E1%BB%B1c-c%E1%BB%91-g%E1%BA%AFng-c%E1%BA%A3i-thi%E1%BB%87n-h%C3%ACnh-%E1%BA%A3nh-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-vi%E1%BB%87t


Nỗ lực cố gắng cải thiện hình ảnh người Việt
Hà Hồng Tiến

Hôm nay có đọc được một tin về việc Đài Loan ngừng cấp visa du lịch cho đoàn khách người Việt bởi có một đoàn khách 153 người Việt nam sau khi đến Đài Loan du lịch thì có 152 người trốn ở lại. Đọc tin đó mình biết là sau này người việt khi đi Đài Loan xin visa sẽ trở nên khó khăn hơn và làm mình nhớ đến câu chuyện của ba mình.
Ba mình hôm vừa rồi về Việt Nam dịp Tết dương lịch thăm nhà từ Nhật. Khi mua vé máy ba ba có nhờ một công ty du lịch mua giúp vì lúc đó ba mới sang Nhật nên chưa có thẻ tín dụng để trả tiền vé. Công ty đó do không có kinh nghiệm nên viết tên ba mình không rõ họ và tên nên so với hộ chiếu thì nó có khác (ví dụ như nếu ghi rõ họ và tên thì ở giữa tên sẽ có một dấu gạch chéo để ngăn cách họ và tên riêng nhưng trên vé của ba thì không có dấu gạch chéo đó). Khi ba tới sân bay check in thì người ta thấy không khớp liền không cho ba check in. Ba mới gọi điện cho công ty du lịch đó thì người ta bảo cứ yêu cầu cho lên máy bay vì trước cũng có một người Nhật bị lộn tên họ và tên riêng ở trên vé đợi đến cuối khi tất cả mọi người đã check in hết rồi người ta mới yêu cầu cho lên máy bay vì khi đó chứng tỏ người ta không ăn cắp vé của ai cả mà chỉ là sự nhầm lẫn về tên thôi. Ba mình cũng làm như vậy nhưng khi ba mình nói thì họ chỉ phớt lờ ba đi và đóng quầy. Ba bảo vì là cầm cuốn hộ chiếu Việt Nam đó con, nếu cầm cuốn hộ chiếu của Nhật thì mọi chuyện sẽ đơn giản hơn rất nhiều. 
Sau khi ba gặp chuyện đó mình cũng hơi bực mình bởi vì mình công nhận người Nhật họ có một kiểu là họ thể hiện rõ sự tôn trọng của họ khác hẳn với người Nhật và với người nước ngoài (hay còn gọi là lòng tự tôn dân tộc cao quá), vì việc phớt lờ ba mình đi là việc thấy rõ sự khinh thường. Mình gọi điện ngay cho anh bạn trai nói tại sao họ lại có cái thái độ như thế. Anh ấy bảo: “Em phải hiểu cái hộ chiếu Việt Nam không đáng tin tưởng vì em biết rồi đó tỉ lệ tội phạm của người Việt Nam ở Nhật là cao nhất nên càng ngày an ninh càng phải được thắt chặt. Sự việc xảy ra như thế này rất tiếc nhưng cũng không có cách nào cả”. Mình mới cãi bảo:”Nhưng chí ít ra họ cũng nhìn được visa của ba em là visa kĩ sư chứ mà kĩ sư thì sang Nhật có phải nhiều đâu và đã là visa kĩ sư rồi thì người cầm được cái visa đó cũng phải là người tử tế rồi chứ đúng không?”. Anh ấy bảo:”Ừ nhưng họ vẫn có sự nghi ngờ nhất định em ạ”. Mình cũng đành bất lực nói:”Thôi vậy em phải luôn cố gắng để hình ảnh người Việt Nam đẹp lên trong mắt người Nhật và được tôn trọng hơn”. Sau đó anh ấy hỏi vặn lại mình một câu rằng:”Một mình em làm được không?”. Mình cũng phải im lặng luôn vì không trả lời chắc chắn được câu đó.
Câu chuyện thứ 2 của ba là đổi bằng lái xe ô tô. Đồng nghiệp của ba người Croatia đi đổi bằng lái xe ô tô sang bằng lái xe ô tô của Nhật. Ba mới hỏi đổi thế nào thì bác ấy bảo chỉ cần cầm bằng lái ra rồi cầm giấy tờ tùy thân của mày ra là đổi được thôi. Thế ba mới mang ra kêu đổi thì người ta không cho ba đổi với lí do là bằng lái xe của mày là bằng lái của Việt Nam mà chúng mày bằng giả nhiều lắm bọn tao không biết đâu mà lần nên bây giờ mày muốn có bằng lái xe của Nhật phải học lại thi lại (mà phí thi lấy bằng lái xe của Nhật tốn từ 40~60 triệu). Thế là ba đành lủi thủi đi về thế là ở Nhật là không lái được xe đi chơi. 
Qua mấy câu chuyện của ba mình tự nhủ hoặc là phải có cuốn hộ chiếu thật quyền lực như cuốn hộ chiếu của Nhật (đi khắp nơi không cần xin visa chỉ mua vé máy bay như đi trong nước là xong) hoặc là phải có thật là nhiều tiền để những lúc mất tiền bởi những trường hợp dở hơi như ba cũng không thấy tiếc và có thể dùng tiền để mua lại thứ đã mất, hoặc là phải trở thành một người cực kì quyền lực và có sức ảnh hưởng để thay đổi cả một xã hội để hình ảnh về con người của đất nước được tôn trọng hơn.
Viết đến đây chỉ mong người Việt ở Nhật nói riêng và ở khắp nơi nói chung cùng nhau nỗ lực cố gắng sống đẹp để người Việt đi đến đâu cũng sẽ ngày càng được tôn trọng. Mình nghĩ đó thể hiện được lòng yêu nước hơn là ra ngoài đi bão gây tai nạn rồi hô hào “tôi yêu việt nam” hay “Việt nam vô địch” rồi tất cả lại chìm vào quá khứ sau khi mọi thứ đã qua. Với mình lòng yêu nước không phải là việc tự hào nói liên tục “tôi yêu việt nam”, lòng yêu nước với mình là trở thành một người tốt, làm cho hình ảnh của đất nước đẹp hơn. Nếu giỏi hơn chút nữa thì lòng yêu nước đối với mình là tạo công ăn việc làm cho người dân lao động ở việt nam để họ không phải tìm mọi cách trốn sang nước ngoài. Còn nếu không xuất chúng được như vậy thì sống đẹp và lao động sản xuất làm cho đất nước giàu hơn.
2018 Dec 26th

Nói thêm với con gái:
* Có lẽ đoàn khách du lịch 153 người đó không phải là bỏ trốn. Có thể họ bị chính đồng loại ở VN lừa. Ngay từ đầu họ không phải là muốn đi du lịch mà họ muốn đi lao động. Một công ty nào đó tự xưng là làm dịch vụ xuất khẩu lao động, nhưng họ vô năng, nên họ làm visa du lịch cho 152 người đó. Rồi khi sang đến Đài Loan họ đưa người ta đi đâu đó rồi mặc kệ. Phía Đài Loan chỉ phát hiện ra sau khi 152 người đó quá hạn visa mà vẫn chưa thấy xuất cảnh trở về.